 |
|
doibathanh08
member
REF: 408168
12/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Ô NHIỄM THUỐC SÁT TRÙNG: D D T
Mai Thanh Truyet Ph. D.
Abstract:The widespread and indiscriminate use of pesticides in Vietnam, including the use of DDT compounds to control weeds, insects, and fungi in argicultural activities, is threatening the health of the population. These chemicals are not only toxic and carcinogenic, they biodegrade at an extremely slow rate, diluted only by organic solvents. Thus, they tend to be retained by the soil, suspended in the air, and ready to poison the entire environment. The chemicals certainly will all find their way into rivers, ground water reservoirs, and wells, poisoning fish, animals, vegetation and ultimately contaminate the whole food chains. The ill-informed farmers and the indiscriminate consumers cannot be protected by the lack of governmental control over hazardous chemicals. The fatal damage is daily and on the rise. This paper seeks to explain the danger of these chemicals and call for a public education program in addition to the responsible production, distribution, and use of these pesticides before more life will be unecessarily lost.
MỤC LỤC:
· Nhận dịnh
· Thuốc trừ sâu rầy.
· Cách xâm nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu
· Tình trạng ô nhim thuốc trừ sâu rầy tại Việt Nam.
· Ảnh hưởng và tác động của thuốc trừ sâu rầy trên cơ thể
· Đề nghị giải quyết.
1. Nhận định
Tin tức từ giới truyền thông Việt Nam cho thấy rằng hầu như hàng ngày, trên một phần đất nào đó ở Việt Nam, từ Bắc chí Nam ... có loan tin về một vài trường hợp bị ngộ độc chết do ăn phải thực phẩm có nhiễm thuốc trừ sâu rầy, hoặc ói mửa vì ăn phải rau cải không được rửa sạch và khử trùng ... Tình trạng trên đây cho thấy rằng việc sử dụng thuốc trừ sâu rầy không được hướng dẫn, nguyên tắc vệ sinh không được phổ biến và áp dụng thuốc không đúng qui cách.
Thêm nữa, trước tình trạng kinh tế và xã hội không ổn định ở Việt Nam hiện tại, chính quyền tỏ ra bất lực trong việc kiểm soát sản xuất, nhập cảng, và sử dụng thuốc trừ sâu rầy và diệt cỏ dại. Tại Sài Gòn hiện có ba xí nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu rầy, đó là: Xí nghiệp thuốc sát trùng Bình Triệu, Tân Thuận và Xí nghiệp thuốc trừ sâu Sài Gòn. Sự thiếu am tường về mỗi loại hoá chất và liều lượng sử dụng đã góp phần đưa dến tình trạng ngộ độc nêu trên. Thêm vào đó, tệ nạn nhập cảng bất hợp pháp, pha chế thuốc giả vì lợi nhuận, tăng thêm tình trạng ngộ độc và gây ra ô nhiễễm môi trường.
2. Thuốc trừ sâu rầy
Để thấy được một cách quy mô mức độ nguy hiểm do sự nhiễm độc vì các thuốc sát trùng, thuốc trừ sâu rầy... trên cây cỏ, súc vật và nhất là nguồn nước dùng cho dân chúng, ta cần làm sáng tỏ một vài định nghĩa và khái niệm tổng quát về các loại hóa chất trên.. Dick Irwin, một chuyên gia Hoa Kỳ nổi tiếng về ngộ độc đã nhận định rằng: "Hóa chất đã thay thế vi khuẩn và siêu vi khuẩn trong các nguy cơ cho sức khoẻ con người. Các bịnh bắt nguồn từ hóa chất đang trở thành nguyên nhân hàng đầu trong tử suất của loài người vào cuối thế kỷ XX và sẽ qua cả thế kỷ XXI. "
Hình 1. Pestiides dùng để tăng năng xuất thu hoạch.
Pesticides là một nhân tố chính mà nông nghiệp thế giới dùng để làm tăng năng xuất thu hoạch song song với việc sử dụng phân bón, từ đó gia tăng mức sống kinh tế của loài người. Tuy nhiên Pesticides cũng là nguyên nhân của những thảm trạng khác mà loài người phải trả. Khi xâm nhập được rồi, các chất Pesticides sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và biến đổi môi trường sống xung quanh một cách khắc nghiệt. Các tác động của Pesticides trên môi sinh chưa được khoa học nghiên cứu đúng mức do đó biện pháp phòng ngừa và kiểm soát cũng chưa được sát thực.
Ảnh hưởng lâu dài của Pesticides trên con người vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi Pesticides được cho phép mang ra sử dụng. Chỉ sau quá trình sử dụng lâu dài và các phản ứng phụ phát hiện ra rồi mới biết ảnh hưởng của các tác hại mà thôi.
Pesticides nói chung là các hóa chất độc, phân loại tùy theo khả năng: Herbicides: Tiêu diệt cây cỏ được xếp vào loại thuốc trừ cỏ dại. Insecticides: Tiêu trừ một số côn trùng thuộc loại thuốc trừ sâu rầy. Fungicides: Tiêu diệt một số nấm độc hại thuộc loại thuốc trừ nấm mốc. Ngoài hóa chất chính cấu tạo thành ba loại thuốc kể trên, phần phụ gia chiếm tỷ lệ từ 90-98% của hỗn hợp. Các chất phụ gia này còn có thể là mầm móng của bịnh ung thư và một số bịnh khác.
3. Cách xâm nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu rầy
Các thuốc trên xâm nhập vào cơ thể con người từ nhiều cách khác nhau:
· hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ở ngoài da;
· đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống;
· hoặc đi vào khí quản qua đường hô hấp.
Tùy theo vùng sinh sống và cách làm ăn sinh hoạt, con người có thể bị nhiễễm độc trực tiếp hay gián tiếp:
· dân sống trong vùng nông nghiệp chuyên canh về lúa thường bị nhiễễm độc qua đường nước;
· vùng chuyên canh về thực phẩm xanh như các loại hoa màu, bị nhiễễm qua đường hô hấp nhiều nhất; và sau cùng,
· dân vùng thị tứ bị nhiễễm khi tiêu thụ các thực phẩm đã bị nhiễễm độc.
· Phải liệt kê thêm một số gia súc và thú rừng ... đã bị nhiễễm độc, làm người tiêu thụ khi ăn phải sẽ bị nhiễễm theo (tình trạng này chiếm đa số các vụ nhiễễm độc ở Việt Nam).
4. Tình trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu tại Việt Nam.
Trung Tâm Kiểm Định Thuốc Bảo Vệ Thực Vật đã báo cáo về tình trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu rầy ở Việt Nam là: "Sau khi rửa sạch nấu chín dư lượng độc chất trong thuốc trừ sâu Methamidophos (loại pesticide chứa phosphat hữu cơ) còn lại trong rau tươi vẫn vượt quá mức cho phép và còn có thể gây ngộ độc. Dư lượng thuốc trên trong cải ngọt là 315.3 mg/kg; sau khi rửa sạch và nấu chín cải ngọt, dư lượng thuốc còn 0.183 mg/kg, vượt quá 46 lần mức cho phép ăn được của một người nặng 50 kg. Trong kết quả phân tích 256 mẫu rau tại chợ Mai Xuân Thưởng, Cầu Muối, Bà Chiểu trong năm 1996 cho thấy 57% số mẫu có dư lượng Methamidophos vượt mức cho phép từ 50 lần trở lên." (Thông Tấn Xã VN 7/98)
Hình 2. Đồng Lúa ở DBSCL.
Khó tưởng tượng hơn nữa là gần đây, một chuyên gia thuộc công ty cấp nước thành phố HCM cho biết rau muống được trồng rải rác khắp các mạng lưới kinh rạch trong thành phố và được xịt thuốc trừ sâu bằng ... cặn nhớt xe phế thải. Nhớt tưới lên cây rau muống có mục đích làm tăng độ xanh tươi của cây và ngăn chận sự xâm nhập của sâu bọ !
Các dự kiện trên cho thấy rằng vì sinh kế khó khăn thêm nên nhà trồng tỉa cố tìm đủ phương cách để làm tăng lợi nhuận. Vì dân trí còn quá thấp kém nên các di hại về sau cho người tiêu dùng không được lưu tâm. Hơn nữa chính quyền không đủ khả năng và nhân lực để kiểm soát mọi vi phạm (hoặc xem đây là một ưu tiên thấp so với các khó khăn khác như quốc phòng, kinh tế, an ninh nội chính v.v.)
Đa số các Pesticides đang được sử dụng ở Việt Nam là các hợp chất hữu cơ chứa một hay nhiều nhân tố Chlor hay Phosphate kết hợp với nhân Benzene do đó rất khó bị tiêu hủy trong thiên nhiên dù trong một thời gian rất dài. Theo thống kê, nông dân miền Tây dùng 26 loại thuốc trừ dịch hại bảo vệ lúa và các cây ăn trái trong đó DDT được sử dụng nhiều nhất. (Thống kê này không ghi rõ dung lượng DDT đã được sử dụng). [Đồng bào di cư năm 1954 chắc hẳn chưa quên hình ảnh của một loại bột trắng, không mùi được xịt thẳng vào người từ đầu đến chân trước khi bước chân xuống tàu há mồm để xuôi Nam! Đó chính là DDT đã được dùng để khử trùng trên những người dân di cư.]
5. Ảnh hưởng và tác động của thuốc trừ sâu trên cơ thể.
Bài viết nầy nhằm chú trọng vào các ảnh hưởng và tác động ngắn hạn và dài hạn của DDT trên cơ thể con người cũng như đưa ra một số đề nghị để giải quyết vấn đề ô nhiễm nói trên.
DDT [ 1,1,1-trichloro-2,2-bis-(p-chlorophenyl)ethane] đã được tổng hợp vào năm 1874, nhưng mãi đến 1930, Bác sĩ Paul Muller (Thụy Sĩ ) mới xác nhận DDT là một hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và từ đó được xem như là một thần dược và không biết có ảnh hưởng nguy hại đến con người. Khám phá trên mang lại cho ông giải Nobel về y khoa năm 1948 và DDT đã được sử dụng rộng rãi khắp thế giới cho việc khử trùng và kiểm soát mầm mống gây bịnh sốt rét.
Nhưng chỉ hai thập niên sau đó, một số chuyên gia thế giới đã khám phá ra tác hại của DDT trên môi trường và sức khỏe người dân. Do đó, tại Hoa Kỳ từ năm 1972 DDT đã bị cấm sử dụng hẳn. Tuy nhiên cho đến hôm nay, các nhà chế tạo Mỹ vẫn tiếp tục sản xuất DDT để xuất cảng qua Phi châu và các nước Á châu trong đó có Việt Nam (300.000 kg/năm). Theo tài liệu của National Safety Council Hoa Kỳ (7/98) năm 1962, Hoa Kỳ tiêu thụ 80 triệu Kg DDT và sản xuất ra 82 triệu, và năm 1972 Hoa Kỳ chỉ tiêu thụ 2 triệu Kg.
DDT tuy đã bị cấm ở Hoa Kỳ từ năm 1972 nhưng đến nay hoá chất này vẫn còn là một vấn nạn cho EPA Hoa Kỳ ở những vùng nông nghiệp và những vùng quanh nhà máy sản xuất ra DDT. Hiện tại DDT vẫn còn ngưng tụ nơi thềm lục địa vùng Palos Verdas (ngoài khơi vùng biển Los Angeles) vì nhà máy sản xuất DDT Montrose Chemical, Co. tại Torrance đã thải DDT vào hệ thống cống rãnh thành phố vào năm 1971. Việc xử lý ô nhiễm DDT cho vùng này ước tính sẽ tốn kém vào khoảng 300 triệu USD.
Tuy không có số liệu chính xác về số lượng DDT đang được sử dụng ở Việt Nam, nhưng tin tức từ quốc nội cho biết rằng thuốc này vẫn còn đang được áp dụng rộng rãi đặc biệt ở vùng châu thổ sông Cửu Long vì là vùng có nhiều sông rạch và nhiều muỗi mồng.
Lượng DDT tích tụ trong môi trường tăng dần theo thời gian và tùy liều lượng sử dụng của dân chúng; sau khi sử dụng DDT vẫn tiếp tục tồn tại trong nguồn nước, lòng đất và bụi DDT vẫn lơ lửng trong không khí ... DDT không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong dung môi hữu cơ và được EPA Hoa Kỳ xếp vào danh sách các loại hóa chất phải kiểm soát vì có nguy cơ tạo ra ung thư cho người và vật.
Tiếp xúc trực tiếp vớI DDT làm cho da bị ngứa, khó chịu khi chạm vào mắt và làm chảy nước mủi khi hít vào. - liều lượng cao hơn, có thể ảnh hưởng lên hệ thần kinh và khi trực tiếp tiếp xúc vớI DDT trong thời gian dài có thể bị sơ gan (dạng necrosis).
Hình 3. Thu hoạch lúạ..
Trẻ con bú sữa mẹ hay sữa tươi bị nhiễm độc DDT trực tiếp qua sự hiện diện của DDT trong sữa tươi hay gián tiếp vì thức ăn của người mẹ. Các hiện tượng sau đây được quan sát trong trường hợp bị nhiễm DDT từ nhẹ như: nhức đầu, cảm thấy người yếu dần, tê các đầu ngón tay ngón chân, thường hay bị chóng mặt; cho tới nặng hơn như: mất trí nhớ, sống trong tâm trạng hồi họp thường xuyên, bị co thắt ở cơ
ngực, không kiểm soát được đường tiểu, thở rất khó khăn và đôi khi bị động kinh. Tệ hại hơn nữa, nhiều bà mẹ đã bị xảy thai trong vùng ảnh hưởng của DDT. Nhiều nông dân sống trong những vùng trên đã từng bị ung thư đường tiêu hóa. Điều nầy đã nói lên tầm quan trọng của hậu quả của DDT sau một thời gian sử dụng dài hạn. Nên nhớ, việc sử dụng hóa chất trên trong một thời gian dài sẽ làm tăng thêm sức đề kháng của chính các sinh vật DDT phải tiêu trừ, từ đó người ta lại phải tăng thêm liều lượng sử dụng DDT thêm lên!
Gần đây DDT còn là một trong 12 loại hoá chất được các nhà khoa học thế giới xếp vào hạng Persistent Organic Pollutants (POPs)- đó là các hạt bụi ô nhiễm hữu cơ không bị hủy diệt trong không khí. Theo báo Chemical & Engineering News (7/98), đại diện của 92 quốc gia trên thế giới đã tụ họp tại Montreal (Gia Nã Đại) để bàn thảo về các biện pháp như cấm sản xuất và sử dụng các hoá chất trên vì lý do độc hại của chúng do sự tích lủy lâu dài trong không khí, lòng đất và nguồn nước, kết tụ vào các mô động thực vật - nguồn thực phẩm chính của loài người. Tuy nhiên cuộc hội thảo vẫn chưa đưa ra một giải đáp xác đáng nào cả vì còn nhiều trở ngại do quyền lợi riêng của các quốc gia liên hệ. Tuy nhiên thế giới vẫn lạc quan và hy vọng sẽ đạt được một hiệp ước toàn cầu về việc cấm sử dụng các hóa chất trên vào năm 2000.
Việc sản xuất Pesticides và một số hóa chất hữu cơ POPs kể trên đem lại lợi ích kinh tế thật đáng kể cho quốc gia sản xuất , vì trên quả đất nầy còn hơn ba tỷ người ở các nước đang mở mang vẫn còn dùng đến các hoá chất trên như "phương tiện duy nhất để khử trùng và sát trùng".
Do đó việc cấm sử dụng hoàn toàn các hóa chất trên cần phải đứng trên bình diện thật nhân bản: Các quốc gia tiên tiến cần hy sinh, giảm đi lợi nhuận, ngưng cung cấp các hóa chất vốn đã biết là độc hại này, và nhận trách nhiệm nghiên cứu giúp các nước kém mở mang tìm ra các hóa chất hay phương sách khác tốt hơn để khử trùng, trừ sâu rầy và diệt cỏ dại...
6. Đề nghị giải quyết
Ngành công nghệ sinh học (Biotechnology) đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát cỏ dại và sâu rầy. Công nghệ này áp dụng phương pháp cấy mô hay tế bào vào cây cỏ hay động vật để tạo ra kháng thể tự nhiên cho các thế hệ về sau do đó cây cỏ và gia súc sẽ được miễn nhiễm và từ đó cho năng suất cao ...
Trở lại tình trạng Việt Nam hiện tại, như đã trình bày ở phần trên và với cái nhìn tích cực hướng về tương lai, một số đề nghị để giải quyết vấn nạn sử dụng thuốc trừ sâu rầy bừa bãi, không đúng liều lượng được lần lượt trình bày sau đây:
Trước hết về phía chính quyền, phải lưu tâm hơn nữa về vấn đề kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất và nhập cảng hóa chất liên hệ, chận đứng việc nhập cảng bất hợp pháp ... kiểm kê và kiểm tra các hóa chất sử dụng để bào chế thuốc cũng như liều lượng hóa chất nhập cảng và phân phối cho từng vùng. Biết được lượng thuốc và loại thuốc sử dụng ở từng vùng sẽ mang lại một lợi ích rất lớn là khi có ngộ độc cá nhân hay tập thể, việc tích trữ thuốc chữa, truy tìm nguyên nhân sẽ dễ dàng hơn, việc cứu cấp được nhanh chóng hơn và có thể phòng ngừa, hạn chế hay chặn đứng được các vụ nhiễễễm độc đó.
Hình 4. Lúa được thu hoạch.
Phổ biến những tài liệu chỉ dẫn dểễ hiểu về từng loại hóa chất, cách dùng và liều lượng áp dụng cho từng loại hoa màu và gia súc (mức ấn định sử dụng DDT theo tiêu chuẩn EPA Hoa Kỳ là < 2.5% tinh chất). Từ đó người dân được học hỏi và biết dùng hóa chất trong đời sống hàng ngày, nhất là đối với dân sống ở nông thôn ít được tiếp xúc với thành phố vì phương tiện giao thông bị hạn chế.
Về phía người dân, cần phải vứt bỏ những định kiến sai lầm đã có từ đời này
sang đời khác trong cách dùng thuốc, bỏ các thói quen để chấp nhận phương cách mới hầu thâu đạt năng xuất sản xuất, giảm thiểu việc sử dụng thuốc bừa bãi và không hợp lý để bảo vệ môi trừơng sống của chính mình và những người chung quanh.
Sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết và đúng thời điểm tùy theo sự tăng trưởng của từng loại nông phẩm hoặc gia súc nhằm tránh lạm dụng và ảnh hưởng đến năng suất.
Và sau hết để bảo vệ sức khoẻ, cần cố tránh tiếp xúc trực tiếp với thuốc để thuốc khỏi phải thấm vào da thịt, và cố tránh việc dùng thuốc gần các nguồn nước sinh hoạt hàng ngày. Nên nhớ dù DDT không hòa tan trong nước nhưng những hạt bụi li ti vẫn có thể lơ lửng trong nước hay trong không khí hoặc trong đất và rất dểễ xâm nhập vào cơ thể con người.
Việt Nam hiện nay là một quốc gia có tỉ lệ thanh thiếu niên rất cao so với dân số. Đó là tiềm năng lao động lớn nhất trong việc phát triển kinh tế quốc gia. Vì vậy sức khoẻ cần được bảo vệ và dân trí nâng cao. Nếu dùng lăng kính của một chuyên gia dự phòng về tương lai, hầu như mọi người đồng ý rằng chính quyền hiện tại cần mở rộng tầm nhìn, chối bỏ những lợi nhuận ngắn hạn trước mắt để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạn lâu dài hơn. Dân có mạnh, Nước mới giàu! Đó là chân lý ngàn đời không thay đổi.
Mai Thanh Truyết 9/98
|
|
doibathanh08
member
REF: 408167
12/02/2008
|
>>
xem chủ đề
THẨM ĐỊNH MỨC TÁC HẠI CỦA THUỐC SÁT TRÙNG
GỐC ORGANO-PHOSPHATE
Mai T. Truyet.
Cho đến thập niên 80, đa số thuốc sát trùng, diệt cỏ dại đều là hóa chất có gốc là một hay nhiều nhân benzen và chlor kết hợp. Sau một thời gian dài sử dụng, các loại thuốc nầy ảnh hưởng lên sức khỏe của con người và gây nhiều tác hại mà điển hình nhất là bịnh ung thư. Do đó các nhà khoa học cố tìm một phương cách kết hợp khác vẫn giữ được hiệu năng mà lại giảm thiểu được mức tác hại. Từ đó, các hóa chất được kết hợp thêm gốc organo-phosphate ra đời và được áp dụng rộng rãi cho đến nay.
Mặc dù các nhà sản xuất đã cung cấp rất nhiều công trình nghiên cứu về thẩm định mức tác hại của các lọai hóa chất trên, nhưng các nghiên cứu nầy chưa đủ tính cách thời gian để có thể đưa đến kết quả chính xác và kết luận cững chưa được hoàn chỉnh đặc biệt là đối với những định mức về tác hại lên sức khỏe của con người.
Muốn thẩm định ảnh hưởng tác hại của một hóa chất lên sức khỏe của con người, trước tiên cần phải làm nhiều thử nghiệm lên thú vật, rồi từ đó tính ra liều lượng hóa chất có thể tác hại lên con người nghĩa là gấp 10 lần nồng độ cần thiết có thể gây tử vong cho thú vật.
Định mức nầy gọi là nồng độ ô nhiễm tối đa (maximum contaminant level-MCL). EPA cũng vừa công bố mức thẩm định sơ khởi của 31 loại thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate. Sự nghiên cứu dựa trên một cơ chế tác hại chung đã được khảo sát cả trên con người lẫn thú vật; đó là tính chất ức chế của diếu tố acetyl cholinesterase. Đây là một đặc tính chung của các loại hóa chất sát trùng có gốc organo-phosphate.
Tiến sĩ Stephen Johnson, Phụ tá Giám đốc EPA, phát biểu rằng muốn thẩm định mức an toàn và mức độc hại lâu dài của các loại thuốc sát trùng cần phải có khả năng khai triển và áp dụng các phương pháp khoa học. Do đó, EPA đã đo mức độ độc hại của từng hóa chất bằng cách so sánh mức độ ức chế diếu tố nầy trên methamidophos, một loại thuốc sát trùng đã được khảo sát tường tận về nồng độ độc hại, và từ đó suy ra mức độc hại của từng lọai thuốc sát trùng. Cũng từ những định mức nầy EPA đưa ra được tiêu chuẩn mới trong việc phân tích thực phẩm, nước sinh hoạt, và ảnh hưởng của các cư dân sống trong vùng tiếp cận với thuốc sát trùng. Từ các kết quả sơ khởi trên, EPA nhận định rằng các loại thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate hòa tan trong nước uống chưa có chỉ dấu tác hại lên sức khỏe của con người. Tuy nhiên, có 3% trẻ em từ một đến ba tuổi đả bị tiếp xúc quá nhiều hóa chất trên qua đường thực phẩm.
Các nghiên cứu sơ khởi kể trên của EPA đã được trình bày trong một tập tài liệu dầy hơn 800 trang; tuy nhiên, tài liệu nầy vẫn chưa được Hiệp Hội Bảo vệ Mùa màng Hoa kỳ bình luận hay công nhận (American Crop Protection Association).
Trong chiều hướng chuyển tải các thông tin khoa học, người viết xin trình bày sơ lược các giai đoạn cần thiết để truy tìm mức độ an toàn, thời gian tiếp cận, cùng cung cách xác nhận nồng độ có thể chấp nhận được của các hóa chất thuộc gốc organo-phosphate.
Luật Bảo vệ Phẩm chất Thực phẩm ở Hoa kỳ đã được ban hành vào năm 1996 (Food Quality Protection Act- FQPA). Một cách căn bản, theo luật nầy, EPA có trách nhiệm xác định cơ cấu độc hại của tất cả các hóa chất dùng trong kỹ nghệ thực phẩm như thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại, và ảnh hưởng của hóa chất trên lên sức khỏe của con người. EPA cũng còn phải nghiên cứu mọi phương cách tiếp cận độc hại từ thực phẩm, nguồn nước sinh hoạt, và việc sử dụng trong gia đình.
Ngày 15/1/2002, Lois Rossi, thuộc Office of Pesticide Programs, EPA, đã công bố kết quả thử nghiệm việc thẩm định nhóm 31 hóa chât thuộc gốc kễ trên và tuyên bố đây chỉ là kết quả ban đầu và chưa có kết luận chính thức từ phía EPA về mức tác hại của từng hóa chất. Tuy nhiên, giới khoa học thấy được những khuyến cáo xem như là kết luận căn bản trong báo cáo trên: các hợp chất thuộc gốc organo-phosphate trong nguồn nước uống không là nguyên nhân chính gây tác hại lên sức khỏe của con người, mà nguồn thực phẩm mới thực sự là nguyên nhân chính yếu, đặc biệt đối với sức khỏe trẻ em.
Từ những suy nghĩ trên, phương pháp thẩm định phải dựa theo nguyên tắc sử dụng một lượng thuốc sát trùng cần thiết để làm giảm 10% tác dụng của diếu tố acetyl Cholinestase trên súc vật.. Định mức trên đây được gọi là “nồng độ thí nghiệm 10” (benchmark dose 10 – BMD10). Phương pháp nấy đã thay thế phương pháp định mức độc hại cũ là dựa trên cách tính định mức độc hại suy diễn từ nồng độ của hóa chất không gây ảnh hưởng lên tính ức chế, do đó không được chính xác.
Từ định mức BMD10 của từng hóa chất, EPA xác định được mức độ an toàn lên cơ thể con người bằng cách giảm nồng độ BMD10 xuống 100 lần. Tuy nhiên Quốc hội Hoa kỳ, căn cứ theo luật Bảo vệ Thực Phẩm đã quyết định mức an toàn phải là 10 lần thấp hơn định mức của EPA hay tương đương với 0,001 BMD10 mà thôi.
Tư những kết quả nghiên cứu trên, các kết luận ban đầu được trích ra như sau:
· Các thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate hiện diện trong thực phẩm là nguồn nhiễm độc nguy hiểm cho con người, đặc biệt là trẻ em từ 1 đến 5 tuổi. Và tùy theo mức độ bị nhiễm độc của trẻ em , Luật Bảo vệ Phẩm chất Thực phẩm sẽ cho phép FDA thu hồi giấây phép sản xuất của hóa chất có độ ô nhiễm quá định mức. Tuy nhiên,EPA vẫn chưa xác định các định mức của từng hóa chất có gốc trên.
· Định mức an toàn của EPA cho nước uống là từ 10 đến 100 lần mức độ an toàn áp dụng cho thực phẩm.
Căn cứ theo Luật Bảo vệ Thực phẩm, EPA cần phải định mức 9.600 hóa chất thuộc gốc nầy, nhưng cho đến nay, mới chỉ có 31 hóa chất được nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh. Hiện tại, EPA cần phải thẩm định lại mức an toàn của hơn 3.200 hóa chất đã được được phép tung ra thị trường căn cứ trên các kết quả thẩm định của các nhà sản xuất.
Các dữ kiện trên đây cho thấy rằng việc thẩm định mức độc hại/an toàn của các loại thuốc sát trùng rất cần thiết và cũng rất phức tạp. Nó đòi hỏi sự hợp tác của các nhà sản xuất, cơ quan bảo vệ môi trường, và các cơ quan y tế. Hơn thế nữa, các quốc gia trên thế giới cần phải phối hợp chặt chẻ để việc thẩm định mau đi đến kết quả hầu giảm thiểu mức tác hại lên con người.
Trong tình thế hiện tại, chúng ta chỉ mới có một ít dữ kiện về các định mức an toàn của các loại hóa chất nầy cùng các ảnh hưởng của chúng lên sức khỏe của con người. Những ảnh hưởng chính là: - 1) Rối loạn nội tiết có thể làm mất khả năng hoạt động trong việc trao đổi hormone trong cơ thể do đó có thể tạo ra những hiện trạng dị hình dị dạng; -2) Ảnh hưởng lên mức sinh trưởng và sinh sản của con người.
Kết luận
Các thuốc sát trùng gốc organo-phosphate đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ hơn 20 năm qua. Tuy nhiên, mức độ độc hại của từng hóa chất chưa được nghiên cứu và xác định rõ ràng. Danh mục của 31 hóa chất mới vừa được EPA Hoa kỳ công bố chỉ là những nghiên cứu sơ khởi về mức độc hại qua sự giảm thiểu tính ức chế của diếu tố cholinesterase trên cơ thể con người. Nhưng từ đó suy ra mức độc hại ảnh hưởng lên sức khỏe hay kết luận về những nguyên nhân gây ra bịnh tật do các hóa chất trên vẫn còn là một bước dài trong việc nghiên cứu. Do đó, biện pháp hay nhất hiện tại là biện pháp phòng bị song hành với việc nghiên cứu ảnh hưởng độc hại. Và biện pháp phòng bị hay nhất trong lúc nầy là hạn chế tối đa việc sử dụng các hóa chất trên trong nông nghiệp.
Theo báo cáo của Bộ Thương Mại Việt Nam (Báo Người Lao Động, 20/4/2002), mức tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật trong nước hàng năm vào khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát được. Khi đem con số nầy áp dụng vào tổng dịên tích đất trồng trọt ở Việt Nam chỉ có khoảng 10 triệu hecta, giới làm khoa học có thể thấy nông dân Việt Nam đã sử dụng một số lượng thuốùc bảo vệ thực vật gấp nhiều lần hơn so với nông dân các quốc gia Tây phương. Theo tiến sĩ Ngô Kiều Oanh thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên, thì với diện tích trồng trọt trong nước hiện tại, chỉ cần độ 50.000 tấn là quá dư thừa rồi. (Nông dân Việt Nam đả sử dụng 30 lần nhiều hơn mức trung bình!). Từ đó suy ra mức độ ô nhiễm các hóa chất độc hại lên thực phẩm tiêu dùng ở Việt Nam để thấy kết quả đương nhiên mà người tiêu thụ trong nước phải hứng chịu: từ cọng rau muống cho đến quả cà, ngó sen. v.v.. . thậm chí cho đến gia cầm, tôm cá,….. .đều có dấu vết của các hóa chất độc hại nầy.
Xin đan cử ra đây một thông tin mới nhất xuất phát từ báo chí trong nước về trường hợp xã Cổ Loa ở miền Bắc.Hiện tại nơi xã nầy có tất cả 195 gia đình có người tàn tận với 318 người bị khuyết tật bẩm sinh. Nhiều gia đình có tới 2,3 con bị dị tật. Vá bài báo kết luận một cách đơn giản là tất cả đều do ảnh hưởng của chất độc màu da cam dioxin. Có phải chăng chỉ vì nơi đây có một gia đình của một cựu bộ đội vượt Trường sơn trong thời gian chiến tranh. Thật giản dị (!) và không cần chứng minh! Thật ra, chỉ cần khả năng khoa học kỹ thuật hiện có của Việt Nam cũng đủ để truy tìm những nguyên nhân của hiện tượng nầy . Xin đề nghị kiểm nghiệm mức dinh dưởng của người dân trong xã để tìm xem có sự khiếm khuyết sinh tố vì thiếu dinh dưởng, và thử nghiệm sự hiện diện của các thuốc bảo vệ thực vật thuộc gốc organo-phosphate trong mô mở, gan.. . của những nạn nhân. Hàng trăm các vụ nhiễm độc gần đây đã được các cơ quan y tế Việt Nam xác nhận là do các thuốc kể trên hiện diện trong nguồn thực phẩm.
Xin đừng đổ lỗi cho quá khứ chiến tranh nữa. Đã đến lúc chính quyền cần phải can đảm chấp nhận một thực tế là hiện tượng ô nhiễm hóa chất độc hại từ Bắc chí Nam là kết quả của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, thiếu chính sách, không kế hoạch. Và hơn nữa người nông dân Việt Nam chưa được chuẩn bị cũng như chưa được chỉ dẫn tường tận cách dùng các loại thuốc trên. Can đảm chấp nhận thực tế trên, can đảm nhận lãnh trách nhiệm để sửa chửa thì hãy còn có cơ may cứu vãn Đất và Nước được. Không còn thì giờ để chỉ quy trách các thế lực quốc tế có mưu đồ phá hoại.
Tình trạng nhiễm độc do thuốc sát trùng và sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng đã đến mức báo động đỏ.
Người Nông dân không còn con đường nào khác hơn là phải tự cứu lấy chính mình!
Mai Thanh Truyết
West Covina 30/4/2002
Ghi Chú:
31 thuốc sát trùng gốc organo-phosphate đều có tính chất kễ trên. Gồm: acephate, azinphos-methyl, bensulide, chlorethoxyfos, chlopyrifos, chlopyrifos-methyl, diazinon, dichlorvos, dicrotophos, dimethoate, disulfoton, thoprop, phenamiphos, phenthion, malathion, metha-midophos, methyl-parathion, mevinphos, naled, oxydenmeton-methyl, phorate, phosolone, phosmet, phostebupirin, pirimiphos-methyl, profenofos, terbufos, tetrachlorinphos, tributos, trichlorofon, và fosthiazate. Chất sau cùng nầy dự định sẽ thay thế methyl-bromide dùng để diệt trùng (fumigation) trước khi trồng trọt, đặc biệt cho kỹ nghệ trồng dâu.
|
|
doibathanh08
member
REF: 408165
12/02/2008
|
>>
xem chủ đề
(Tiếp theo )
Thực tế là Mỹ có sử dụng chất Agent Orange tại VN trong chiến tranh từ 1961-1971. Chất này được trộn với dầu lửa hay xăng cũng như dầu cặn, rồi dùng máy bay xịt xuống vùng cần khai quang. Và dù Dioxin đã là tác nhân gây những bệnh tật liên hệ tới sự miễn nhiễm, sinh sản, hormone và các loại bệnh ung thư.
Nhưng có một điều mà mọi ngươì không để ý, là DIOXIN tự nó luôn có thể xâm nhập vào cơ thể người một cách dễ dàng, qua khói bếp, khói thuốc, khói xe.. kể cả ăn thịt cá, uống sửa không vệ sinh, cũng bị nhiễm chất độc Dioxin. Tóm lại chất hóa học này, không cần phải tạo ra trong thuốc khai quang, diệt cỏ, mà tự nó cũng cấu thành qua các cuộc đốt rừng, hưởng khói xe, khói thuốc và thực phẩm bị nhiễm độc.
Mới đây Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, một nhà khoa học làm việc trong Bộ Công Nghệ VN cho biết : " Cam sản xuất tại Hà Giang VN có chứa chất 2,4-D kể cả Cam nhập của Trung Cộng, cũng chứa 2,4-D và 2,4,4-T’. Lập tức nhà khoa học trên bị mất việc và vào tù, vì đã dám công bố sự thật, cho thấy Thực Phẩm của Trung Công, mới là ổ dịch bệnh, tác nhân gây thảm kịch tại VN trong bấy lâu nay.
Tóm lại như nhận xét của Thẩm Phán Weinstein, người đã thụ lý vụ cựu lính Mỹ từng tham chiến tại VN, kiện các công ty Mỹ sản xuất thuốc trừ diệt cỏ, Nhưng dù biết trước các nguyên đơn sẽ không bao giờ thắng kiện, ông vẫn yêu cầu bị cáo vì nhân đạo, đã chịu xuất hơn 180 triệu mỹ kim để bồi thường cho những người kia.
Vụ kiện kỳ này, do nhóm luật sư Mỹ mà đầu đảng là Constantine Kokoris hợp với Dương Quỳnh Hoa (trước khi chết xác nhận mình không hề bị nhiểm chất độc màu da cam, mà chỉ bị đảng bắt buộc) đứng đơn kiện Mỹ. Có điều tới nay, qua dư luận trong cũng như ngoài nước, tấn tuồng đã biến chuyển từ nguyên tắc khoa học và công pháp quốc tế, như lời tuyên bố của nữ Giám Ðốc Xưởng Ðẻ Từ Dũ Sài Gòn :’ không cần xét gì cả, thấy bệnh là phải bồi thường’. Cho nên cũng như lần trước, người xử án là Jack Weinstein, chắc cũng phải theo cách trước, là yêu cầu các bị cáo bỏ ra một số tiền, để giúp các nạn nhân đau khổ VN, dù biết nguyên nhân bị bệnh của họ, tới nay cũng chỉ có trời mới biết.
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2008
---------------------------------
Xin lỗi tác giả, bài viết có bị sưả đôi chút trong lối trình bày vì tui nghĩ, sợ bài viết bị liệt vào chính trị rồi bị xoá. Ý cuả tui ở đây là noí về chuyện khoa học đơì sống. Có nhiều ngươì như tui, không hiểu gì hết nên mới tìm tòi đọc cho biết. Vì nghe 1 chiều không thể phân biệt được thật giả, mà đời nay còn có cái gì goị là thật nưã chứ. Xin cám ơn tác giả thật nhiều.
|
|
doibathanh08
member
REF: 408164
12/02/2008
|
>>
xem chủ đề
CHẤT ÐỘC MÀU DA CAM : ( sưu tầm)
Hay " Agent Orange " thực chất chỉ là một loại thuốc diệt cỏ thông thường , được sử dụng tự do trên thị trường, trong lãnh vực nông nghiệp. Trong thời gian tham chiến tại VN, chính thức từ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã đem rải xuống rừng rậm, núi cao và những mật khu, tình nghi có ngươì trú ẩn, để giết cỏ, diệt cây, khai quang địa thế cho trống trải, an ninh.
Ðây là một hỗn hợp hai thành phần có trọng lương ngang nhau (50%), gồm chất 2,4 D là dạng viết tắt của Dichloro Phenoxy Acetic Acid. Và chất 2,4,5 T cũng là dạng viết tắt của Tetracloro Phenoxy Acetic Acid. Qua quá trình chế tạo , trong thuốc diệt cỏ màu da cam, từ phản ứng tự nhiên khi sinh chất 2,4,5 T, đã có một chất hóa học khác đi kèm. Ðó là chất 2,3,7,8 dạng viết tắt của Tetrachloro Dibenroốp-Dioxin. Chất này thường được gọi tắt là Dioxin.
Còn chất trắng là một hỗn hợp gồm chất 2,4D và Picloram. Theo các nhà nghiên cứu, thì chất màu da cam cũng như màu trắng, có tác dụng làm cây rụng lá, để phát quang rừng cây kể cả rừng đước, bần bị ngập mặn tại Năm Căn, U Minh tỉnh An Xuyên. Cây cỏ sẽ bắt đầu khô héo, chết mòn sau vài ba ngày. Riêng chất xanh Cacodylic Acid rải trong các mật khu, mục đích cũng chỉ khai quang.
Ngoài ta theo các nhà khoa học hiện nay, thì các chất hóa học được dùng làm thuốc diệt cỏ và khai quang, chỉ tồn tại một thời gian không lâu và mất tác dụng vì bị phân hủy, từ 1 tháng tới 1 năm, sau khi được rải. Riêng sự tồn tại của Dioxin thì đến nay vẫn còn bàn cải, không có ý kiến thống nhất giữa các nhà khoa học, cho nên cũng không biết đâu mà mò, khi kèn thổi ngược, trống đánh xuôi.
Có điều VN không bao giờ xác nhận là ở VN từ sau năm 1975, tình trạng vệ sinh ăn ở rất là xuống cấp. Thêm vào đó, tệ nạn tham nhũng, ham tiền, nhắm mắt mở khẩu, khai quan cho thực phẩm, hàng hóa của Trung Cộng tràn ngập thị trường, từ thành tới miền quê hẻo lánh. Ðiển hình nhất, là trong khi cả nước VN bị điêu đứng vì nạn cúm gà, chết người, chết gia súc.. thì ... tha hồ cho Gà cúm Trung Cộng, ào ào vào VN vô tội va.
Vì vậy, lời phán quyết của giới hữu trách cũng như dư luận trong và ngoài nước, xác quyết rằng : Người VN bị ung thư, bạo bệnh, sinh non, quái thai, dị tật bẩm sinh, không phải là do ảnh hường của chất Da Cam., mà là bị Hội Chứng Nhiễm Ðộc Thưrc Phẩm, Trái Cây, Hải Sản và ngay tới Bánh Trung Thu, được nhập cảng công khai như buôn lậu của Trung Cộng.
Ðể rõ ràng nhất về cái gọi là hội chứng màu da cam không ai hơn Việt Kiều, qua những hậu quả bệnh hoạn không tránh được, từ những thức ăn đường phố Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ Phan Thiết, cho tới trong bệnh viện, phòng sửa sắc đẹp và kinh khiếp nhất là tại các nghĩa trang cũng như phòng chụp quang tuyến X khắp các đô thị. Mấy điều này, không thấy VN nhắc tới bao giờ, cũng như không nghe rằng là Lính " Ngụy" ở hải ngoại, cũng bị chất độc màu da cam, mà chỉ nói tới lính Mỹ, dù rằng họ không dính tới vụ này.
|
|
doibathanh08
member
REF: 408155
12/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Mỗ hôm nay đi ngang qua đây, thấy cái tựa hấp dẫn nên mỗ kéo ghế ngồi đọc. Thì ra chủ nhà đem 3 con vật: bò , chó , nhòng ra làm trò cươì cho thiên hạ.
Mỗ còn nhớ khi xưa ngươì ta tôn vinh trâu bò là Anh hùng lao động, cấm không cho giết trâu bò ăn thịt. Nếu muốn ăn, thì phải ăn chui, ăn lén hay đút lót thì mới được bán phở trâu, phở bò.
Cũng may là trâu bò ngu nên loài ngươì mơí bắt nó đi kéo cày và những đồng lúa xanh mướt vơí cơm thơm dẻo nuôi sống cho con ngươì. Vậy thì chúng ta phải mang ơn cái ngu cuả chúng chứ. Nếu chúng mà khôn, chúng đếch kéo cày thì loài ngươì lấy gì mà ăn, hoặc giả chúng ta phải đi kéo cày thay trâu bò, thì lúc ấy, cái đám trâu bò lại nhe hàm răng trắng ởn ra mà bảo rằng: lũ ngươì kia đần độn thật.
Ngày nay thế giới văn minh đã chứng minh được rằng không có con vật nào ngu xuẩn cả, chỉ có chúng ta không có khả năng để nghiên cứu xem chúng nghĩ gì và làm được gì. Có những con chó được huấn luyện tìm ra bạch phiến, tìm được ngươì bị vuì lấp trong đống gạch vưã khi động đất hay xập nhà ngay cả khi bị tuyết vuì lấp nưã a.
Góp vơí chủ nhà bài thơ vui nghen:
Anh hùng lao động trâu bò
Tôn vinh nên cấm giết bò hại trâu
Phở bò lén lút đã lâu
Muốn ăn phải giấu hoặc sâu tiền lơì
Ngươì ta nuôi chó để chơi
Nâng niu ve vuốt ai đơì thịt luôn
Chó tây đồ hộp cao lương
Chó ta liếm láp ngoài đường đồ dơ
Vâỵ mà ngươì cứ làm ngơ
Thịt chó bày tiệc ơ hơ vui cươì
Con nhòng tập noí tiếng ngươì
Còn ngươì lo liú tiếng đươì ươi kia
Nhìn xem lũ khỉ đi hia
Làm trò dở ẹc vuốt ria tự cười
Lời chót khuyên chủ nhà, đừng ngỡ thú vật không hiểu gì mà đem ra mạt sát chúng. Không có chúng chưa chắc mình đã được như ngày hôm nay. Thế giới y khoa đã phải nhờ đến chúng để làm ra thuốc cưú con ngươì. Haỹ tôn trọng chúng, vậy mơí xứng đáng là người có văn hoá.
Xin chào. Đơì bất hạnh
|
|
|
|
Kí hiệu:
:
trang cá nhân :chủ
để đã đăng
:
gởi thư
:
thay đổi bài
:ý kiến |
|
|
|
|
|