 |
|
anhtaduong
member
REF: 434086
03/22/2009
|
>>
xem chủ đề
SH đúng là cao thủ trong làng đố, không ra tay thì thôi, ra tay rồi là quán lung lay liền.
SH đoán trúng câu 4 và 5.
Còn lại câu 1,2,3 và câu 7, SH và các bạn vào phá nốt nhé
Chúc vui SH
|
|
anhtaduong
member
REF: 434063
03/22/2009
|
>>
xem chủ đề
SH đoán trúng thêm câu 2, còn bạn DatPhat đã phá nát quán của ATD rồi, bạn giỏi thiệt, nhưng cũng may quán còn 1 câu bonus, hy vọng bạn DP tiếp tục vào phá nốt nha.
ATD đố tiếp 5 câu nữa, mời các bạn ghé vào tham gia cho dzui.
1. Một mẹ sinh chín mười con
Anh em nhường ấy, cô đơn nỗi gì?
Tối ngày than thở như ri
Người nghe chột dạ, hoài nghi đứng nhìn.
(Là con gì?)
2. Có mào có cựa
Tiếng tựa như kèn
Mà nhắc đến tên
Tai nghe như trông.
(Là con gì?)
3. Mình mặc áo xanh chỉ vàng
Cái ruột tím tím cái gan hồng hồng
Ra đi dạo khắp ruộng đồng
Bốn chân chấm đất, hai chân co quỳ.
(Là con gì?)
4. Mệng ngậm máu tươi
Minh mặc áo giáp
Ở dưới bùn thì hạp
Ở trên bãi không ưa
Không thiếu không thừa
Hai hàm răng đều đặn.
(Là con gì?)
5. Cho hay duyên nợ bởi trời
Vợ chồng một khắc không rời xa nhau.
(Là con gì?)
Chúc vui tất cả
|
|
anhtaduong
member
REF: 433725
03/21/2009
|
>>
xem chủ đề
Mến chào SH, Agasa và HAT
Rất vui khi được các bạn vào giải câu đố, mong rằng các bạn vào phá tiếp nhé
SH đáp đúng câu 3
Agasa đúng câu 6
HT ra đáp án câu 1, mặc dù chưa phải là đáp án chính, nhưng bạn HT đưa ra đáp án là con quạ rất hợp lý. Vậy cho HT trúng câu 1, có bạn nào ra đáp án thêm càng hay.
Còn câu 2,4,5 và câu 7
Chúc các bạn một ngày chủ nhật thật vui vẻ
|
|
anhtaduong
member
REF: 432310
03/16/2009
|
>>
xem chủ đề
Đoán thử một lần nữa, hông trúng đành chịu thôi, bí rồi SH ơi
Có phải đông xuân không?
|
|
anhtaduong
member
REF: 432296
03/16/2009
|
>>
xem chủ đề
SH đố hính, ATD cũng rất thích, nhưng nghĩ hoài hông ra, đành phải ngồi xem các bạn vào giải thôi.
Còn câu 5 và câu đố phụ, ATD vào đoán thử, hy vọng trúng gaỉi an ủi
Câu 5 có phải mùa đông không?
Câu đố phụ là chim manh manh?
Chúc vui nhiều
|
|
anhtaduong
member
REF: 431072
03/13/2009
|
>>
xem chủ đề
Hôm nay ATD vào thử đoán 2 câu xem có trúng được câu nào không, câu đố kỳ này khó đó SH
2/ Sau 1975 , xuất hiện một số nghề khá lạ , sau này đã biến mất . Bạn có biết đó là những nghề gì không !?
Nghề bơm bút bi, bơm hộp quẹt gas, bán máu, lộn sên xích xe đạp, Honda, hợp tác xã
3/ SG có một ngôi nhà mang rất nhiều huyền thoại , bạn có biết hay đã từng nghe qua !?
Bảo tàng Mỹ Thuật (chú hỏa) Con ma nhà họ Hứa
Câu đố dân gian số 5, ATD tính đoán là cái gương rồi, nhưng ngồi nghĩ cái gương làm gì có cửa, nên mới ra đáp án là cửa kiếng đó SH.heeeeeeeeeeee.
Chúc những gì tốt đẹp nhất đến với SH
|
|
anhtaduong
member
REF: 430625
03/11/2009
|
>>
xem chủ đề
Chào SH, câu 2 không phải cái ghế, ATD xin đoán lại là cái quần, vì ATD nghĩ cái quần không có tay, không có bụng, chỉ có hai ống chân và lưng quân, suy đoán vậy không biết có hợp ý đáp án không?
Câu 5 nghĩ hoài chưa ra, chỉ đoán mò theo suy nghĩ của mình thôi
Cửa kiếng? (có bóng hình mình trong đó)
Chúc SH vui vẻ
|
|
anhtaduong
member
REF: 430605
03/10/2009
|
>>
xem chủ đề
Thử 2 câu nha SH
1.Cái chi có vỏi có vòi
Không chân không cẳng có đôi tai dài
Bụng thì như con cóc mài
Ăn thì chẳng muốn , cả ngày đái luôn
( Cái gì )
ấm trà
2.Có chân mà không có tay
Có lưng mà không có bụng , cái hay lạ đời
( Cái gì )
Cái ghế
|
|
anhtaduong
member
REF: 407956
12/01/2008
|
>>
xem chủ đề
Con ngươì cũng vậy, có lớp học bình dân học vụ, bổ túc văn hoá rồi mơí leo lên đỉnh cao trí tuệ cuả loài ngươì. Nên kiến thức cũng bị trì néo theo.
Đã là đỉnh cao trí tuệ cuả loài ngươì thì có ai mà noí cho lại phải không nè...hihihi. Hoan hô ...hoan hô đỉnh cao trí tuệ...
Tất cả đang trôi dần vào dĩ vãng những lơì ca tụng thiên đuờng, mọi ngươì đã và đang thấy trước mắt những gì xảy ra hàng ngày hàng giờ đó mà. Thiên tai, lũ lụt, bịnh hoạn, đời sống mắc mỏ, ngươì không có việc làm vì khủng hoảng kinh tế, gây khó khăn trước tiên cho những nước nghèo nàn lạc hậu. Trong chúng ta ít nhiều gì cũng mắc phải.
Nếu biết dừng lại đúng lúc, kịp thơì, thì hạnh phúc chả phải kiếm đâu xa. Nó ở ngay trong tầm tay vơí mà thôi.
Anh Gold à, em cám ơn Anh. Em nghĩ mình không nên xả rác ở topic cuả Anh nưã. Nếu có gì không đúng, xin Anh bỏ quá cho nhá. Em trộm nghĩ, hạnh phúc là do mình tạo ra , nhưng nếu cứ bị những tác động xung quanh cuả môi trường sống thì khó mà có được như ý.
|
|
anhtaduong
member
REF: 407929
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
Thông qua cuộc điều tra, Nielsen muốn tìm hiểu mức độ hạnh phúc của người dân mỗi nước bị ảnh hưởng thế nào bởi sự bất bình đẳng trong thu nhập, tham nhũng hay hòa bình. Đáng ngạc nhiên là trong nhiều trường hợp, các thị trường nghèo nhất xét theo những tiêu chí này lại là những quốc gia hạnh phúc nhất.
bất bình đẳng trong thu nhập
Những vấn đề như vầy mà con nghiên cưú sao?. Nếu cùng một chức vị, cùng một khả năng, ngươì nào khéo nịnh nọt Xếp, kheó mưu mô xảo quyệt, thì được hưởng nhiều lương hơn chứ sao?.
Về thị trường buôn bán, khéo làm đồ giả, đỡ phải tốn tiền mua nhiên liệu thì thắng lợi nhiều hơn chứ sao?
tham nhũng
Dĩ nhiên là kẻ tham nhũng có quá nhiều tràn trề hạnh phúc rồi. Không phải làm mà tiền cuả thì cứ tà tà chui vô tuí cuả mình.
các thị trường nghèo nhất xét theo những tiêu chí này lại là những quốc gia hạnh phúc nhất.
Công Ty Nielsen này chắc chưa bị đoí bao giờ hay họ chưa bao giờ bị lang thang đầu đường xó chợ hay ngưả tay ra xin từng bưã cơm nhỉ.
------------
Chào Anh Goldsnow, em thấy họ tham khảo quá khập khiễng nên vào góp ý cho vui, chứ vẫn biết mỗi bàn tay có năm ngón, ko ngón nào bằng ngón nào cả. Nhất là ngưoì nước ngoài sống giàu sang sung sướng có tự do bình đẳng và bác aí nên họ ko thể hiểu nổi những gì họ tham khảo đâu. Họ có cái nhìn quá khác mình phải ko Anh?.
Chào Anh.
|
|
anhtaduong
member
REF: 407835
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
Dioxin: Hội Chứng Việt Nam
Mai Thanh Truyet, Ph.D.
(Nội dung bài nầy đã được trình bày qua cuộc phỏng vấn trực tiếp của ký giả Khúc Minh trên đài Radio Bolsa ngày 13/8/2003)
Trong những ngày gần đây, hầu hết các hảng thông tấn trên thế giới, báo chí cùng truyền thanh, truyền hình đều loan tải tin tức mới nhất về mức độ ô nhiễm dioxin ở Việt Nam. Qua báo cáo khoa học của BS Arnold Schecter đăng tải trên tạp chí Journal of Occupational & Environmental Medicine, Vol 45, Number 8, August 2003 dưới tựa đề thật hấp dẫn là:
“Food as a Source of Dioxin Exposure in the Residents of Bien Hoa City, Vietnam.”
Các hảng thông tấn loan tin giựt gân trên qua thông báo báo chí từ Hà Nội. Thực sự có thể nói rằng, họ chỉ dựa theo thông baó trên chứ chưa hề đọc hay nghiên cứu tường tận nôị dung của bản báo cáo khoa học.
Cùng viết chung với BS Schecter có Hòang Trọng Quỳnh, MD. Ph.D. cùng một số cộng tác viên ở viện đại học Texas Houston, School of Public Health. Được biết, trong thời gian chiến tranh BS Schecter là một trung sĩ phục vụ trong ngành quân y của quân đội Hoa kỳ, có tham chiến tại miền Nam VN. Sau khi giải ngủ, ông đi học lại và sau cùng làm việc tại đại học trên. Từ những năm 80, ông đã có những công trình nghiên cứu do Liên hiệp Quốc bảo trợ để truy tầm các nguồn nhiễm độc hóa chất trong con người và thực phẩm ở Hà Nội. Oâng cũng đã khám phá ra mức nhiễm độc DDT trầm trọng trong thịt gà, vịt và nhất là trứng gà vịt (100% số mẫu phân tích đã bị nhiễm). Nhưng những báo cáo nầy không được nêu ra va công bố rộng rãi.
Tuy nhiên, mức độ nhiễm độc Dioxin trong chất Da cam trong chiến dịch Ranch Hand của Hoa kỳ thời chiến tranh được khắp thế giới nêu và được chú trọng nhiều nhất, bỏ quên các hóa chất độc hại khác đã ảnh hưởng lên môi trường ở Việt Nam sau thời kỳ mở cửa năm 1986.
Cũng qua sự vận động của chính phủ Việt Nam và các nhà khoa học ngoại quốc, vấn đề Dioxin được hâm nóng lại trong vòng hai năm trở lại đây.
Vào thượng tuần tháng 3,2002, một Hội nghị quốc tế về Dioxin tổ chức tại Hà Nội và quy tụ nhiều nhà khoa học trên thế giới tham dự cùng với hai phái đòan Việt Mỹ. Kết quả của Hội nghị là không có Thông cáo chung mà chỉ có Biên bản Ghi nhớ (Memorendum of Understanding). Nột dung biên bản được ghi nhận như sau:
· Hai bên đồng ý hợp tác và hổ trợ nghiên cứu tác hại của chất da cam ảnh hưởng lên mội trường và con người;
· Hai bên quyết định chọn hai điểm nóng là khu rừng Mã Đà (Bình Dương) và Đà Nẳng là hai nơi bị phun xịt chất da cam nhiều nhất để làm thí điểm;
· Hai bên cũng đã ngầm đồng ý và không đưa vào nghị trình là phía Việt Nam sẽ không đặt vấn đề bồi thường cho “nạn nhân” ở Việt Nam.
Chưa đầy 4 tháng sau, có lẽ vì không hài lòng với kết quả của Hội nghị, Viêt Nam lại vận động với một số NGO “bè bạn” trên thế giới để tổ chức một hội nghị tại Stockhom (Thụy Điển) vào tháng 7,2002 do nhóm Living Future dưới sự chủ tọa của điều hợp viên Al Burke. Mục tiêu của Hội nghị nầy là tiếp tục kêu gào, kết án và sau cùng là vận động phía Hoa kỳ phải bôì thường cho nạn nhân của Dioxin ở Việt Nam. Trong bản thông caó chung của Hội nghị có đề nghị là phía Mỹ cần nên bồi thường thiệt hại là US $1.000 cho mỗi nạn nhân.
Vào 26 tháng giêng,2003, chúng tôi nhân danh Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VAST) có liên lac với nhóm Living Furture với mục đích nói lên quan điểm của chúng tôi là nên cần xem xét lại hậu quả của việc xử dụng các hóa chất độc hại trong thời gian phát triển Việt Nam vì hàng năm có trên 1 triệu tấn hóa chất dưới dạng thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại, thuốc trừ nấm móc v. v...được tiêu dùng trên một diện tích khỏang độ 9 triệu mẫu đất nông nghiệp. Đề nghị hợp lý của chúng tôi đã được Al Burke trả lời và gán cho chúng tôi là một nhóm thiểu số tình nguyện phục vụ cho các thế lực ngoại bang!.(điện thư ngày 3/2/2003)
Vào tháng 4,2003, thêm một quả bơm nữa, lần nầy không phát xuất từ Dallas, mà từ đại học Columbia. TS Jeanne Mager Stellman đa công bố một báo cáo khoa học trên tạp chí Nature, Volume 422, April17,2003 dưới tựa đề cũng hấp dẫn không kém là:” The Extent and Patterns of Usage of Agent Orange and other herbicides in Vietnam”. Kết quả có được là, theo ước tính của Bà thì lượng Dioxin đã được phun xịt ở Việt Nam là 336 Kg thay vì 170 – 180 Kg như bộ Quốc phòng Hoa kỳ công bố trước đây. Cũng theo mô hình tóan riêng, Bà đã ước tính số nạn nhân bị tiếp nhiễm (exposure) vào khoảng 4 triệu người. Chúng tôi lại nhân danh VAST đã liên lạc với tạp chí Nature, Đại họïc Columbia và Institute of Medicine, nêu ra những thắc mắc về các tính tóan của Bà. Nhưng chúng tôi cũng chỉ được trả lời “huề vốn” và hoàn toàn không thoả mãn. Thêm nữa, tựa đề của báo caó có nêu lên các herbicides nhưng chúng tôi không hề thấy các dữ kiện trên trong nôị dung của bài viết. Cũng cần nên biết là TS Stellman đã hưởng được một trợ cấp 5 triêụ Mỹ kim cho công cuộc nghiên cưú nầy từ năm 1998.
Chưa đầy bốn tháng sau, vào thượng tuần tháng 8,2003, BS Schecter lại công bố báo cáo đã được nêu trên ở phần đầu. Báo cáo khoa học đưa đến kết luận dựa theo kết quả phân tích của 16 mẫu thực phẩm để từ đó đi đến kết luận là người dân Biên Hòa bị tiếp nhiễm trầm trọng. Có nhiều nghịch lý trong bản báo cáo:
1. Với 16 mẫu thực phẩm thử nghiệm mà BS Schecter đã đi đến kết luận cho tòan dân tỉnh Biện Hòa thì quả thật BS đã đi quá xa và khó có luận cứ khoa học nào có thể bảo vệ được lập luận trên;
2. Trong kết quả phân tích chúng tôi ghi nhận được lượng DDT, PCBs, HCH, HCB có nồng độ cao gấp ngàn lần nồng độ của Dioxin mà tác giả chỉ lưu ý đến mức tiếp nhiễm do Dioxin mà thôi. Điều nầy là một chỉ dấu xác tính nói lên tính cách bất xuyên suốt của tác giả và đây là rõ ràng là một báo cáo khoa học “có định hướng”.
3. Trong một điện thư của tác giả gữi đi ngày 18/6/2003 gữi cho các đối tác anh em ở Hà Nội và bạn bè ‘khoa học kỹ thuật khắp năm châu” về hội nghị “trù bị Dioxin ở Hà Nội vào tháng 7,2003 có đọan như sau đã được tác giả nhấn mạnh:” Báo cáo gần đây cho thấy hàm lượng Dioxin trong thực phẩm xuất cảng rất thấp (extremely low). Không thâý sự hiện diện của Dioxin trong tất cả cá (đã được phân tích)(lời người dịch trong ngoặc) (Journal of Toxicology & Health, Part A, 2003).
4. Còn nhớ, trước khi hội nghị xảy ra ở Hà Nội (3/2002), BS Schecter đã công bố một báo cáo khoa học nẩy lửa là máu của người dân Biên Hòa có hàm lượng Dioxin cao gấp 203 lần máu một người dân bình thường (406 ppt so với 2ppt) sau khi phân tích chỉ một mẫu máu mà thôi.. Lần nầy để chuẩn bị cho Hội nghị dưới tiên đề Boston: Dioxin2003, ông kết luậïn người dân Biên Hòa đã bị tiếp nhiễm Dioxin qua thực phẩm. Điều nầy có thể cho chúng ta dự đóan rằng ông Schecter có thể tiền chế bất cứ báo cáo khoa học nào về Dioxin ở Việt Nam theo ý muốn và tùy theo nhu cầu của hội nghị sắp sữa được nhóm họp.
Quả thật đáng tiếc, nhân loại đã bước vào thế kỷ thứ 21 mà vẫn còn hiện diện nhiều “chủng loại” khoa học như khoa học phục vụ cho nhu cầu cá nhân (nghiên cứu theo đơn đặt hàng để có phân (fund)), hoặc khoa học phục vụ cho “ý đồ” chính trị….. . thay vì phục vụ đơn thuần cho sự tiến bộ của loài người.
TS Steven Milloy, một nhà sinh-thống kê học, luật sư, và là giáo sư của Cato Institute trong một bài viết ngày 8/7/2000 trên FoxNews đã nhận định rằng:” Các khoa học gia đã quá thoải mái (enjoyed) với trên một tỷ Mỹ kim của quỷ liên bang dưới danh nghĩa Quỷ Môi sinh Quốc phòng (Environmental Defense Fund). Khoa học gia ở đại học Texas Arnold Schecter muốn có tiền (wants money) để nghiên cứu chất Da Cam liên hệ đến sức khoẻ của người dân Việt Nam. Tướng tự, Việt Nam cũng có thể “làm việc” (works) qua các nhà vận động môi sinh để đòi hỏi “bồi thường” từ phiá Hoa Kỳ”.
Từ những nhận định trên, chúng ta có thể tiên đóan diễn biến và nội dung của Hội nghị diễn ra tại Boston sắp đến. Cũng sẽ có những nhà khoa học “phe ta” lên diễn đàn chính như TS Wayne Dwernychuck của Cty Hatfield (Canada), TS Mocarelli (Ý), BS Arnold Schecter (Dallas), TS Stellman (Columbia) v. v. .. Và thông cáo chung có thể sẽ có nội dung như sau:
· Thời gian thẩm định về chất độc Da Cam đã kéo dài quá lâu do đó con số nạn nhân ở Việt Nam có thể lên đến 4 triệu;
· Biên Hòa là một điểm nóng cần phải có ngân khoản để nghiên cứu thêm;
· Hoa kỳ cần phải “làm dịu nỗi đau” của nạn nhân và bồi thường thiệt hại cho Việt Nam.
Trở lại trường hợp của BS Schecter, mặc dù có những nghịch lý trong báo cáo mới nhất của ông, nhưng trong lần nầy ông đã công bố cùng một lúc với các kết quả đo đạt về Dioxin qua việc ghi nhận sự hiện diện của các hóa chất độc hại sau đây như Furans, PCBs, HCH, HCH, DDT trong 16 mẫu thực phẩm mà ông phân tích (4 mẫu thịt gà, 2 bò, 2 heo, 5 cá, 2 vịt, và 1 ếch) . Các hoá chất sau nầy nằm trong danh sách 12 hóa chất “dơ bẩn” đã được Liên hiệp Quốc thông qua tại Stockhom, Thụy Điển (2002) và đã bị cấm sản xuất cũng như xử dụng. Nên nhớ Dioxin không nằm trong danh sách nầy vì chưa được thử nghiệm hòan chỉnh các tác hại lên con người. Hàm lượng PCBs, DDT.. . của các mẫu phân tích nầy cao gấp trăm ngàn lần hàm lượng của Dioxin thể hiện tượng tương tự như các kết quả nghiên cứu ông đã từng công bố trên 10 năm trước đây, nhưng chưa bao giờ được nằm trên bảng so sánh với Dioxin.
Tuy nhiên có một điểm tích cực được ghi nhận nơi ông lần nầy là trong phần kết luận của bản nghiên cứu, ông đã thừa nhận rằng:” Chất Da Cam vẫn chưa hẳn là nhân tố cần thiết trong việc nhiễm độc lên con người, thực phẩm , và cựu chiến binh Hoa kỳ ở Việt Nam”. Hy vọng các nhận định có tính cách khách quan nầy có thể làm chuyển đổi “tư duy” của các nhà khoa học để tập trung sự trung thực trong nghiên cứu hơn là hướng về các “phân” quốc tế cũng như phục vụ cho những “ý đồ” chính trị không trong sáng.
Là một người Việt Nam, chúng tôi tha thiết được chia xẻ nỗi đau mà người dân Việt đang gánh chịu. Nếu quả thật đây là hậu quả của chất độc màu da cam do quân đội Hoa kỳ phun xịt trong thời gian chiến tranh, chúng tôi sẽ là một trong những người đi hàng đầu trong công cuộc vận động chính quyền Hoa kỳ phải bồi thường để xoá lấp phần nào nỗi đau thương của dân tộc.
Là một nhà khoa học, chúng tôi không thể nào làm ngơ trước những thông số khoa học qua các kết quả phân tích từ hàng chục năm qua không những, để truy tìm Dioxin mà còn là DDT, PCBs, Furans, và các chất độc hại khác trong thuốc sát trùng, diệt cỏ, trừ nấm mốc v. v... Các hóa chất vừa kễ trên đã được xử dụng hàng loạt và bừa bãi kễ từ sau chính sách đổi mới từ năm 1986 ở Việt Nam. Do đó chúng tôi không loại trừ ảnh hưởng độc hại của Dioxin mà chỉ dóng lên tiếng chuông kêu gọi các nhà khoa học có lương tâm trong nước cũng như ở hải ngoại lưu ý và nghiên cứu thêm hậu quả của các hoá chất trên có thể đã ảnh hưởng lên người dân Việt.
Mai Thanh Truyết
Orange 8/2003
|
|
anhtaduong
member
REF: 407833
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
CÂU CHUYỆN DIOXIN/DIOXINS
Dioxin là một vấn đề đang tạo ra nhiều tranh cải của các nhà khoa học trên thế giới về hậu quả tác hại của hóa chất nầy lên con người. Tuy nhiên chính quyền Việt Nam hiện tại và một số nhà khoa học, nghiên cứu trong nước đều đồng loạt nhận định rằng mọi bịnh tật lạ, các thai nhi có dị hình dị dạng....đều là nạn nhân của dioxin hay chất màu da cam do quan đội Hoa kỳ phung xịt trong một giai đoạn thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Điều nầy cũng dễ hiểu và không cần bàn đến nơi đây.
Tùy theo định nghĩa, dioxins gồm có dioxin hay 2,3,7,8-TCDD và những hợp chất dioxins tương đương ở dạng furans và polychlorinated biphenyls (PCBs) cùng có bốn nguyên tử chlor trong phân tử. Cơ Quan Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (US EPA) đã có những định nghĩa khác nhau về dioxins. Theo định nghĩa ngày 12/6/2001, dioxins là một tập hợp của 29 hợp chất gây nhiều tác động sinh hóa lên thú vật gồm 7 chất TCDD, 10 hợp chất furans, và 12 chất PCBs. Tuy nhiên gần đây nhất, trong báo cáo chính thức về việt tái thẩm định dioxins vào tháng 6/2001, EPA đã giãm số lượng của dioxins xuống, chỉ còn TCDD và furans mà thôi. Đó là quan niệm về phía Hoa kỳ.
Theo các nhà khoa học Âu châu, dioxins đã được nhìn rộng ra xa hơn nữa, gồm có tất cả 210 hóa chất trong nhóm dibenzodioxin, dibenzofurans, và PCBs. Trong số 210 hợp chất nầy, chỉ có 17 chất có vị trí của chlor là 2,3,7,8 và được xem là độc hại hơn cả. Vì vậy, để phân tích nồng độ, hay ước lượng định mức hấp thụ hàng ngày cho con người, các nhà hóa học thường dùng chỉ số “độäc hại tương đương” (toxicity equivalence – TE) để chỉ lượng dioxins trong máu hay sữa mẹ...Thí dụ khi nói 1ng TE có nghĩa là hổn hợp dioxins hiện diện trên tương đương với 1 ng 2,3,7,8-TCDD.
Truy tìm nguyên nhân tạo ra dioxins, chúng ta cần đi ngược thời gian từ đầu thế kỹ 20, kể từù khi công ty Dow Chemical Midland ở Hoa kỳ thành công trong việc sản xuất hàng loạt khí chlor sau khi tách rời được dung dịch muối ăn (sodium chloride – Na Cl). Kễ từ đó, chlor được dùng để chế biến đủ các loại thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại, và các hợp chất dẽo (plastic) nhất là chất polyvinyl chloride hay PVC mà chất sau cùng nầy đã được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thời bấy giờ vì đã mang lại nhiều ứng dụng trong kỹ nghệ cho thế giới. Và dioxins từ những bước đầu tiên của công nghệ chlor, đã trở thành một danh từ đầu môi trong hầu hết các quy trình sản xuất các sản phẩm chứa chlor. Đây là một phó sản không nằm trong dự tính của con người, và chính con người cũng chưa tìm được phương cách để loại trừ hóa chất nầy trong sản xuất. Trong thuốc diệt cỏ dại và khai quang 2,4,5-T (trichloro-phenoxyacetic acid), dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước tính vào độ 2 ppm (phần triệu).
Định mức chấp nhận của dioxin/dioxins
Tùy theo ước tính của từng cơ quan hay quốc gia, định mức chấp nhận hấp thụ hàng ngày (tolerable daily intake – TDI) của dioxins được thay đổi và được ước tính bằng pg (hay 10 -12 ) như sau:
· Hòa Lan: 4 pg/ngày/Kg (cân lượng cơ thể);
· WHO: 10 pg/ngày/Kg;
· Đức: 1 pg/ngày/Kg;
· FDA (USA):0.03 pg/ngày/Kg (Cơ quan lương thực và dược phẩm);
· USEPA 0.006 pg/ngày/Kg;
· Canada: 10 pg/ngày/Kg.
Trong luật môi trường của Đức, lượng khí thoát ra từ nhà máy không được chứa quá 0,1 ng TE/m3 dioxins (toxicity equivalence). Lượng bùn (sludge) khô thải ra cũng không được quá 100 ngTE/Kg. Đất ở các khu gia cư phải thấp hơn 1.000 ngTE/Kg. Để có khái niệm về định mức độc hại, một thí dụ về sự hiện diện của 1,3-dichloropropanol (DCP) trong xì dầu xuất cảng từ Việt Nam, Thái Lan, Hongkong, Taiwan qua Anh đã được Cơ quan Định chuẩn Thực phẩm (Food Standards Agency) của Anh xác định vào tháng 7/2001 là định mức hấp thụ tối đa hàng ngày (total daily intake-TDI) là 2 ng/ngày/Kg (cân lượng cơ thể). Như vậy nếu một người tiêu thụ 12 mL xì dầu trên sẽ hấp thụ 10 – 20 lần định mức hàng ngày. Và đây là một hóa chất có thể làm thay đổi “gene” trong cơ thể từ đó có thể sinh ra một số bịnh ung thư máu, não...
Việc phân tích dioxins rất khó. Trong phân tích, dioxins luôn luôn xuất hiện cùng một vị trí với PCBs, chất sau nầy được đo ở mức độ chính xác đến ng (10 -9 ) nếu dùng dụng cụ HRGC/HRMS. Và từ kết quả tìm thấy được ta mới ước tính nồng độ của dioxins. Thí dụ: nếu kết quả đo đạc trong sữa bằng phương pháp trên là 100 ng/g (100 ppb) PCBs thì nồng độ dioxins tương ứng rất cao. Do đó cách đo đạc dioxins cho đến ngày nay vẫn còn nhiều điều cần phải điều chỉnh thêm.
Như vậy, nếu tính theo định mức 1 pg/ngày/Kg thì cơ thể một người cân nặng 50 Kg có thể hấp thụ 50 pg/ngày. Trong một năm sẽ hấp thụ: 18.250 pg hay 18,25 ng. Và trong 20 năm (sống trên đất Mỹ) lượng dioxin/dioxins trong gan và các mô mở là 365 ng/20 năm. Nếu ước tính thời gian bán hủy (half life) của dioxins là 10 năm, thì tổng lượng dioxins “cư ngụ” trong cơ thể mỗi người là 182,5 ng. Nếu so sánh với lượng dioxin trong máu hay trong sữa mẹ cuả cư dân sống ở vùng A Lưới, A So ( ppt hay pg) thì số lượng dioxins “di trú” thường xuyên trong cơ thể con người sống ở Hoa kỳ vẫn còn quá cao! Và nếu tỷ lệ dị thai, ung thư...của cư dân A So tăng cao như báo cáo Hatfield tường thuật thì chúng ta có thể “khẳng định” rằng tỷ lệ ung thư, sinh con có dị hình dị dạng ở Hoa kỳ sẽ cao gấp nhiều lần hơn!
Các tai nạn liên quan đến dioxins
Cho đến nay, một số tai nạn liên quan đến dioxins xảy ra trên thế giới có thể liệt kê ra như sau:
· Tai nạn tại Times Beach (Missouri-Hoa kỳ) do một công ty hóa chất bán chất phế thải có chứa TCDD; sau đó một công ty có dịch vụ làm giãm thiểu bụi đường đã xử dụng số dầu trên cho dịch vụ phung xịt để ngăn chặn bụi đường ở thành phố trên trong một thời gian ngắn. Kết quả là chính quyền địa phương phải di chuyển 1.400 cư dân sống trong vùng xảy ra tai nạn và phải thiêu hủy hàng trăm ngàn tấn xà bần bị ô nhiễm.
· Tai nạn do việc trộn lẫn 9 Kg dầu có chứa PCBs của một công ty sản xuất thức ăn gia súc tại Bỉ. Điếu nầy đã làm tăng lượng dioxins trong trứng gà, thịt gà, heo và bò....và đã làm chấn động thị trường Âu châu một thời gian.
· Trong quy trình sản xuất thức ăn gia súc, Pháp và Hòa Lan đã dùng bùn khô (sludge), một phế phẩm kỹ nghệ để làm chất đệm, và làm tăng vitamins cùng chất sợi (fiber). Kết quả là các mô mỡ của heo, gà được nuôi ỡ những nơi nầy có chứa lượng dioxins cao. (Hiện tại, Pháp vẫn còn áp dụng phương pháp nầy mặc dù Cộng đồng Âu châu đã nghiêm cấm từ năm 1991.
· Tại Seveso, Ý, trong một vụ nổ ở một nhà máy hóa chất; và sau đó một lượng dioxin ước tính độ 30 Kg đã làm ô nhiễm một vùng rộng 6 Km2. Chim chóc, gia súc và cây cỏ trong vùng bị nhiễm nhất loạt bị chết hay hủy diệt vài ngày sau đó.
· Công ty General Elctric đã thải hồi một số lượng lớn PCBs ước tính vào khoảng 43 tấn trên một khúc sông Hudson (New York). Sau hơn 50 năm, dân chúng sống tại hai thị trấn bên bờ sông là Hudson và Fort Edward vẫn chưa thấy có triệu chứng về các bịnh lạ như dị hình dị dạng gì cả. Nếu so với lượng thuốc khai quang màu da cam, ước tính độ 170 Kg trãi rộng trên một diện tích 38.000 Km2 ở Việt Nam, thiết nghĩ mức độ ô nhiễm nếu có, thì với mức độ nầy, khả năng ảnh hưởng lên con người sẽ như thế nào? Có trầm trọng như báo chí, báo cáo...đã mô tả hay không?
Nhìn chung , trong tất cả những vụ nhiễm độc hay tai nạn liên quan đến dioxin/dioxins xảy ra trên thế giới đã được nêu ra trên đây, không thấy có một nhân mạng nào được liệt kê ra ngoài các thiệt hại về cây cỏ và gia súc sống trong vùng bị tai nạn. Hiện tại, chúng ta hiện đang sống trong một môi trường bị vây phủ bởi những nguồn có khả năng tạo ra ô nhiễm dioxins mà không thể nào tránh né được. Những cột điện trước nhà với các vật cách điện màu nâu: đó chính là PCBs, cũng là một “người bạn” của dioxin. Nơi nhà sau, sau khi bạn thiêu hủy những rác rến sau mỗi buổi party gia đình, vô tình bạn đã góp phần vào việc “tăng cường” ô nhiễm dioxins trong không khí (vấn nạn nầy chiếm 19% tổng lượng ô nhiễm dioxins ở Hoa kỳ). Những hóa chất chứa chlor chúng ta xử dụng trong gia đình hàng ngày đều có nguy cơ tạo ra dioxins trong không khí như thuốc tẩy rửa sodium hypochlorite (bleach). Các sản phẩm plastic, tơ sợi tổng hợp...đều là mầm móng của dioxin khi bị thiêu đốt... Các núi lửa đang hoạt động cũng là một nguồn ô nhiễm dioxins trong không khí cũng giống như nạn cháy rừng....
Và còn bao nhiêu nguồn ô nhiễm khác hiện diện trên khắp mặt địa cầu. Đó là những nhà máy sản xuất chất khai quang 2,4,5-T. Đó là những công trường nông nghiệp lớn xử dụng thuốc diệt cỏ dại như ở Kazakhstan (Nga Sô). Đó là những vùng đang xử dụng một cách bừa bãi, thiếu kiến thức khoa học những loại phân bón “lạ”, những thuốc trừ sâu rầy được nhập cảng lậu, không tên, không chỉ dẫn cách dùng, và chỉ biết qua kinh nghiệm như thuốc màu nâu, xanh, màu sữa ....
Trở về Việt Nam, nếu nhìn vấn đề dioxin/dioxins như là một cảnh báo để hướng dẫn dư luận, giáo dục quần chúng, để mọi người đề cao cảnh giác khi xử dụng những hóa chất như thuốc diệt cỏ dại, thuốc sát trùng đúng cách. Việc hướng dẫn và giúp đở người dân, việc triệt để ngăn cấm xử dụng hóa chất không có xuất xứ rõ rệt chính là việc cần làm trong giai đoạn hiện tại. Xách động và thổi phồng những hậu quả của dioxin mà không đủ luận cứ chứng minh, không có xác tín khoa học hầu mong đánh động lương tâm thế giới chỉ làm cho đất nước càng bị cô lập hơn, và sẽ được thế giới nhìn vào dưới cặp mắt không thiện cảm hơn nữa.
Các vấn nạn về ô nhiễm hóa chất đang đe dọa trầm trọng và xảy ra hầu hết ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Tăng gia sản xuất nông nghiệp mà không hiểu rõ cách dùng phân bón đúng cách đã và đang là một hiểm họa cho việc ô nhiễm nguồn nước. Xử dụng thuốc diệt trùng, diệt cỏ dại bừa bãi sẽ làm các thế hệ sau phải nhận lảnh hậu quả tai hại sau đó. Đã có chỉ dấu cho thấy ĐBSCL đã bị ô nhiễm nitrate và DDT (cũng là một laoi hóa chất độc hại nằm trong danh sách 12 hóa chất bị cấm trong quyết định ở Stockhoms nam 2001). Trong một cuộc hội thảo tại Hà Nội do Bộ Lương thực và Nông nghiệp VN phối hợp cùng với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (International Rice Research Institute-IRRI) vào tháng 5/1994, IRRI có khuyến cáo rằng việc xử dụng thuốc trừ sâu rầy của nông dân là không hợp lý và không hữu hiệu, lý do là nông dân có khuynh hướng xử dụng quá đà đối với các loài sâu bọ không phá hại mùa màng (innocuous). Thêm nữa ví thiếu kiến thức khoa học và thiếu chỉ dẫn cho nên nông dân Việt Nam không thích dùng các phương pháp thiên nhiên để giải quyết vấn đề sâu bọ. Cơ quan Lương nông Quốc tế (FAO) nhấn mạnh rằng tỷ lệ xử dụng thuốc trừ sâu rầy rất cao ở miền Nam Việt Nam rất cao, trung bình là đạt chỉ số 5,3, trong lúc đó chỉ số trên ở Trung quốc là 3,5, Miến Bắc VN , 1,0, Phi luật Tân, 2,0, và Ấn độ là 2,4.
Hơn nữa, với việc khai thác hơn 200.000 giếng đóng ở miền lục tỉnh Nam kỳ dưới sự hổ trợ và cổ súy của UNICEF đã khơi dậy tiềm năng của arsenic đã lắng sâu trong lòng đất từ bao giờ. Một trong những nghiên cứu mới nhứt đã cảnh báo rằng lượng arsenic trong nước sinh hoạt ở nhiều vùng đang trên đà tăng trưởng và đã đạt đến nồng độ ngang hàng với định mức cho phép của WHO là 10 ug/L hay 10 ppb.
Đây mới chính là những việc mà người có trách nhiệm đáng quan tâm và tìm biện pháp giải quyết cũng như phòng bị!
Mai Thanh Truyết Ph.D.
|
|
anhtaduong
member
REF: 407829
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
Ô NHIỄM THUỐC SÁT TRÙNG: D D T
Mai Thanh Truyet Ph. D.
Abstract:The widespread and indiscriminate use of pesticides in Vietnam, including the use of DDT compounds to control weeds, insects, and fungi in argicultural activities, is threatening the health of the population. These chemicals are not only toxic and carcinogenic, they biodegrade at an extremely slow rate, diluted only by organic solvents. Thus, they tend to be retained by the soil, suspended in the air, and ready to poison the entire environment. The chemicals certainly will all find their way into rivers, ground water reservoirs, and wells, poisoning fish, animals, vegetation and ultimately contaminate the whole food chains. The ill-informed farmers and the indiscriminate consumers cannot be protected by the lack of governmental control over hazardous chemicals. The fatal damage is daily and on the rise. This paper seeks to explain the danger of these chemicals and call for a public education program in addition to the responsible production, distribution, and use of these pesticides before more life will be unecessarily lost.
MỤC LỤC:
· Nhận dịnh
· Thuốc trừ sâu rầy.
· Cách xâm nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu
· Tình trạng ô nhim thuốc trừ sâu rầy tại Việt Nam.
· Ảnh hưởng và tác động của thuốc trừ sâu rầy trên cơ thể
· Đề nghị giải quyết.
1. Nhận định
Tin tức từ giới truyền thông Việt Nam cho thấy rằng hầu như hàng ngày, trên một phần đất nào đó ở Việt Nam, từ Bắc chí Nam ... có loan tin về một vài trường hợp bị ngộ độc chết do ăn phải thực phẩm có nhiễm thuốc trừ sâu rầy, hoặc ói mửa vì ăn phải rau cải không được rửa sạch và khử trùng ... Tình trạng trên đây cho thấy rằng việc sử dụng thuốc trừ sâu rầy không được hướng dẫn, nguyên tắc vệ sinh không được phổ biến và áp dụng thuốc không đúng qui cách.
Thêm nữa, trước tình trạng kinh tế và xã hội không ổn định ở Việt Nam hiện tại, chính quyền tỏ ra bất lực trong việc kiểm soát sản xuất, nhập cảng, và sử dụng thuốc trừ sâu rầy và diệt cỏ dại. Tại Sài Gòn hiện có ba xí nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu rầy, đó là: Xí nghiệp thuốc sát trùng Bình Triệu, Tân Thuận và Xí nghiệp thuốc trừ sâu Sài Gòn. Sự thiếu am tường về mỗi loại hoá chất và liều lượng sử dụng đã góp phần đưa dến tình trạng ngộ độc nêu trên. Thêm vào đó, tệ nạn nhập cảng bất hợp pháp, pha chế thuốc giả vì lợi nhuận, tăng thêm tình trạng ngộ độc và gây ra ô nhiễễm môi trường.
2. Thuốc trừ sâu rầy
Để thấy được một cách quy mô mức độ nguy hiểm do sự nhiễm độc vì các thuốc sát trùng, thuốc trừ sâu rầy... trên cây cỏ, súc vật và nhất là nguồn nước dùng cho dân chúng, ta cần làm sáng tỏ một vài định nghĩa và khái niệm tổng quát về các loại hóa chất trên.. Dick Irwin, một chuyên gia Hoa Kỳ nổi tiếng về ngộ độc đã nhận định rằng: "Hóa chất đã thay thế vi khuẩn và siêu vi khuẩn trong các nguy cơ cho sức khoẻ con người. Các bịnh bắt nguồn từ hóa chất đang trở thành nguyên nhân hàng đầu trong tử suất của loài người vào cuối thế kỷ XX và sẽ qua cả thế kỷ XXI. "
Hình 1. Pestiides dùng để tăng năng xuất thu hoạch.
Pesticides là một nhân tố chính mà nông nghiệp thế giới dùng để làm tăng năng xuất thu hoạch song song với việc sử dụng phân bón, từ đó gia tăng mức sống kinh tế của loài người. Tuy nhiên Pesticides cũng là nguyên nhân của những thảm trạng khác mà loài người phải trả. Khi xâm nhập được rồi, các chất Pesticides sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và biến đổi môi trường sống xung quanh một cách khắc nghiệt. Các tác động của Pesticides trên môi sinh chưa được khoa học nghiên cứu đúng mức do đó biện pháp phòng ngừa và kiểm soát cũng chưa được sát thực.
Ảnh hưởng lâu dài của Pesticides trên con người vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi Pesticides được cho phép mang ra sử dụng. Chỉ sau quá trình sử dụng lâu dài và các phản ứng phụ phát hiện ra rồi mới biết ảnh hưởng của các tác hại mà thôi.
Pesticides nói chung là các hóa chất độc, phân loại tùy theo khả năng: Herbicides: Tiêu diệt cây cỏ được xếp vào loại thuốc trừ cỏ dại. Insecticides: Tiêu trừ một số côn trùng thuộc loại thuốc trừ sâu rầy. Fungicides: Tiêu diệt một số nấm độc hại thuộc loại thuốc trừ nấm mốc. Ngoài hóa chất chính cấu tạo thành ba loại thuốc kể trên, phần phụ gia chiếm tỷ lệ từ 90-98% của hỗn hợp. Các chất phụ gia này còn có thể là mầm móng của bịnh ung thư và một số bịnh khác.
3. Cách xâm nhập vào cơ thể của thuốc trừ sâu rầy
Các thuốc trên xâm nhập vào cơ thể con người từ nhiều cách khác nhau:
· hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ở ngoài da;
· đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống;
· hoặc đi vào khí quản qua đường hô hấp.
Tùy theo vùng sinh sống và cách làm ăn sinh hoạt, con người có thể bị nhiễễm độc trực tiếp hay gián tiếp:
· dân sống trong vùng nông nghiệp chuyên canh về lúa thường bị nhiễễm độc qua đường nước;
· vùng chuyên canh về thực phẩm xanh như các loại hoa màu, bị nhiễễm qua đường hô hấp nhiều nhất; và sau cùng,
· dân vùng thị tứ bị nhiễễm khi tiêu thụ các thực phẩm đã bị nhiễễm độc.
· Phải liệt kê thêm một số gia súc và thú rừng ... đã bị nhiễễm độc, làm người tiêu thụ khi ăn phải sẽ bị nhiễễm theo (tình trạng này chiếm đa số các vụ nhiễễm độc ở Việt Nam).
4. Tình trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu tại Việt Nam.
Trung Tâm Kiểm Định Thuốc Bảo Vệ Thực Vật đã báo cáo về tình trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu rầy ở Việt Nam là: "Sau khi rửa sạch nấu chín dư lượng độc chất trong thuốc trừ sâu Methamidophos (loại pesticide chứa phosphat hữu cơ) còn lại trong rau tươi vẫn vượt quá mức cho phép và còn có thể gây ngộ độc. Dư lượng thuốc trên trong cải ngọt là 315.3 mg/kg; sau khi rửa sạch và nấu chín cải ngọt, dư lượng thuốc còn 0.183 mg/kg, vượt quá 46 lần mức cho phép ăn được của một người nặng 50 kg. Trong kết quả phân tích 256 mẫu rau tại chợ Mai Xuân Thưởng, Cầu Muối, Bà Chiểu trong năm 1996 cho thấy 57% số mẫu có dư lượng Methamidophos vượt mức cho phép từ 50 lần trở lên." (Thông Tấn Xã VN 7/98)
Hình 2. Đồng Lúa ở DBSCL.
Khó tưởng tượng hơn nữa là gần đây, một chuyên gia thuộc công ty cấp nước thành phố HCM cho biết rau muống được trồng rải rác khắp các mạng lưới kinh rạch trong thành phố và được xịt thuốc trừ sâu bằng ... cặn nhớt xe phế thải. Nhớt tưới lên cây rau muống có mục đích làm tăng độ xanh tươi của cây và ngăn chận sự xâm nhập của sâu bọ !
Các dự kiện trên cho thấy rằng vì sinh kế khó khăn thêm nên nhà trồng tỉa cố tìm đủ phương cách để làm tăng lợi nhuận. Vì dân trí còn quá thấp kém nên các di hại về sau cho người tiêu dùng không được lưu tâm. Hơn nữa chính quyền không đủ khả năng và nhân lực để kiểm soát mọi vi phạm (hoặc xem đây là một ưu tiên thấp so với các khó khăn khác như quốc phòng, kinh tế, an ninh nội chính v.v.)
Đa số các Pesticides đang được sử dụng ở Việt Nam là các hợp chất hữu cơ chứa một hay nhiều nhân tố Chlor hay Phosphate kết hợp với nhân Benzene do đó rất khó bị tiêu hủy trong thiên nhiên dù trong một thời gian rất dài. Theo thống kê, nông dân miền Tây dùng 26 loại thuốc trừ dịch hại bảo vệ lúa và các cây ăn trái trong đó DDT được sử dụng nhiều nhất. (Thống kê này không ghi rõ dung lượng DDT đã được sử dụng). [Đồng bào di cư năm 1954 chắc hẳn chưa quên hình ảnh của một loại bột trắng, không mùi được xịt thẳng vào người từ đầu đến chân trước khi bước chân xuống tàu há mồm để xuôi Nam! Đó chính là DDT đã được dùng để khử trùng trên những người dân di cư.]
5. Ảnh hưởng và tác động của thuốc trừ sâu trên cơ thể.
Bài viết nầy nhằm chú trọng vào các ảnh hưởng và tác động ngắn hạn và dài hạn của DDT trên cơ thể con người cũng như đưa ra một số đề nghị để giải quyết vấn đề ô nhiễm nói trên.
DDT [ 1,1,1-trichloro-2,2-bis-(p-chlorophenyl)ethane] đã được tổng hợp vào năm 1874, nhưng mãi đến 1930, Bác sĩ Paul Muller (Thụy Sĩ ) mới xác nhận DDT là một hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và từ đó được xem như là một thần dược và không biết có ảnh hưởng nguy hại đến con người. Khám phá trên mang lại cho ông giải Nobel về y khoa năm 1948 và DDT đã được sử dụng rộng rãi khắp thế giới cho việc khử trùng và kiểm soát mầm mống gây bịnh sốt rét.
Nhưng chỉ hai thập niên sau đó, một số chuyên gia thế giới đã khám phá ra tác hại của DDT trên môi trường và sức khỏe người dân. Do đó, tại Hoa Kỳ từ năm 1972 DDT đã bị cấm sử dụng hẳn. Tuy nhiên cho đến hôm nay, các nhà chế tạo Mỹ vẫn tiếp tục sản xuất DDT để xuất cảng qua Phi châu và các nước Á châu trong đó có Việt Nam (300.000 kg/năm). Theo tài liệu của National Safety Council Hoa Kỳ (7/98) năm 1962, Hoa Kỳ tiêu thụ 80 triệu Kg DDT và sản xuất ra 82 triệu, và năm 1972 Hoa Kỳ chỉ tiêu thụ 2 triệu Kg.
DDT tuy đã bị cấm ở Hoa Kỳ từ năm 1972 nhưng đến nay hoá chất này vẫn còn là một vấn nạn cho EPA Hoa Kỳ ở những vùng nông nghiệp và những vùng quanh nhà máy sản xuất ra DDT. Hiện tại DDT vẫn còn ngưng tụ nơi thềm lục địa vùng Palos Verdas (ngoài khơi vùng biển Los Angeles) vì nhà máy sản xuất DDT Montrose Chemical, Co. tại Torrance đã thải DDT vào hệ thống cống rãnh thành phố vào năm 1971. Việc xử lý ô nhiễm DDT cho vùng này ước tính sẽ tốn kém vào khoảng 300 triệu USD.
Tuy không có số liệu chính xác về số lượng DDT đang được sử dụng ở Việt Nam, nhưng tin tức từ quốc nội cho biết rằng thuốc này vẫn còn đang được áp dụng rộng rãi đặc biệt ở vùng châu thổ sông Cửu Long vì là vùng có nhiều sông rạch và nhiều muỗi mồng.
Lượng DDT tích tụ trong môi trường tăng dần theo thời gian và tùy liều lượng sử dụng của dân chúng; sau khi sử dụng DDT vẫn tiếp tục tồn tại trong nguồn nước, lòng đất và bụi DDT vẫn lơ lửng trong không khí ... DDT không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong dung môi hữu cơ và được EPA Hoa Kỳ xếp vào danh sách các loại hóa chất phải kiểm soát vì có nguy cơ tạo ra ung thư cho người và vật.
Tiếp xúc trực tiếp vớI DDT làm cho da bị ngứa, khó chịu khi chạm vào mắt và làm chảy nước mủi khi hít vào. - liều lượng cao hơn, có thể ảnh hưởng lên hệ thần kinh và khi trực tiếp tiếp xúc vớI DDT trong thời gian dài có thể bị sơ gan (dạng necrosis).
Hình 3. Thu hoạch lúạ..
Trẻ con bú sữa mẹ hay sữa tươi bị nhiễm độc DDT trực tiếp qua sự hiện diện của DDT trong sữa tươi hay gián tiếp vì thức ăn của người mẹ. Các hiện tượng sau đây được quan sát trong trường hợp bị nhiễm DDT từ nhẹ như: nhức đầu, cảm thấy người yếu dần, tê các đầu ngón tay ngón chân, thường hay bị chóng mặt; cho tới nặng hơn như: mất trí nhớ, sống trong tâm trạng hồi họp thường xuyên, bị co thắt ở cơ
ngực, không kiểm soát được đường tiểu, thở rất khó khăn và đôi khi bị động kinh. Tệ hại hơn nữa, nhiều bà mẹ đã bị xảy thai trong vùng ảnh hưởng của DDT. Nhiều nông dân sống trong những vùng trên đã từng bị ung thư đường tiêu hóa. Điều nầy đã nói lên tầm quan trọng của hậu quả của DDT sau một thời gian sử dụng dài hạn. Nên nhớ, việc sử dụng hóa chất trên trong một thời gian dài sẽ làm tăng thêm sức đề kháng của chính các sinh vật DDT phải tiêu trừ, từ đó người ta lại phải tăng thêm liều lượng sử dụng DDT thêm lên!
Gần đây DDT còn là một trong 12 loại hoá chất được các nhà khoa học thế giới xếp vào hạng Persistent Organic Pollutants (POPs)- đó là các hạt bụi ô nhiễm hữu cơ không bị hủy diệt trong không khí. Theo báo Chemical & Engineering News (7/98), đại diện của 92 quốc gia trên thế giới đã tụ họp tại Montreal (Gia Nã Đại) để bàn thảo về các biện pháp như cấm sản xuất và sử dụng các hoá chất trên vì lý do độc hại của chúng do sự tích lủy lâu dài trong không khí, lòng đất và nguồn nước, kết tụ vào các mô động thực vật - nguồn thực phẩm chính của loài người. Tuy nhiên cuộc hội thảo vẫn chưa đưa ra một giải đáp xác đáng nào cả vì còn nhiều trở ngại do quyền lợi riêng của các quốc gia liên hệ. Tuy nhiên thế giới vẫn lạc quan và hy vọng sẽ đạt được một hiệp ước toàn cầu về việc cấm sử dụng các hóa chất trên vào năm 2000.
Việc sản xuất Pesticides và một số hóa chất hữu cơ POPs kể trên đem lại lợi ích kinh tế thật đáng kể cho quốc gia sản xuất , vì trên quả đất nầy còn hơn ba tỷ người ở các nước đang mở mang vẫn còn dùng đến các hoá chất trên như "phương tiện duy nhất để khử trùng và sát trùng".
Do đó việc cấm sử dụng hoàn toàn các hóa chất trên cần phải đứng trên bình diện thật nhân bản: Các quốc gia tiên tiến cần hy sinh, giảm đi lợi nhuận, ngưng cung cấp các hóa chất vốn đã biết là độc hại này, và nhận trách nhiệm nghiên cứu giúp các nước kém mở mang tìm ra các hóa chất hay phương sách khác tốt hơn để khử trùng, trừ sâu rầy và diệt cỏ dại...
6. Đề nghị giải quyết
Ngành công nghệ sinh học (Biotechnology) đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát cỏ dại và sâu rầy. Công nghệ này áp dụng phương pháp cấy mô hay tế bào vào cây cỏ hay động vật để tạo ra kháng thể tự nhiên cho các thế hệ về sau do đó cây cỏ và gia súc sẽ được miễn nhiễm và từ đó cho năng suất cao ...
Trở lại tình trạng Việt Nam hiện tại, như đã trình bày ở phần trên và với cái nhìn tích cực hướng về tương lai, một số đề nghị để giải quyết vấn nạn sử dụng thuốc trừ sâu rầy bừa bãi, không đúng liều lượng được lần lượt trình bày sau đây:
Trước hết về phía chính quyền, phải lưu tâm hơn nữa về vấn đề kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất và nhập cảng hóa chất liên hệ, chận đứng việc nhập cảng bất hợp pháp ... kiểm kê và kiểm tra các hóa chất sử dụng để bào chế thuốc cũng như liều lượng hóa chất nhập cảng và phân phối cho từng vùng. Biết được lượng thuốc và loại thuốc sử dụng ở từng vùng sẽ mang lại một lợi ích rất lớn là khi có ngộ độc cá nhân hay tập thể, việc tích trữ thuốc chữa, truy tìm nguyên nhân sẽ dễ dàng hơn, việc cứu cấp được nhanh chóng hơn và có thể phòng ngừa, hạn chế hay chặn đứng được các vụ nhiễễễm độc đó.
Hình 4. Lúa được thu hoạch.
Phổ biến những tài liệu chỉ dẫn dểễ hiểu về từng loại hóa chất, cách dùng và liều lượng áp dụng cho từng loại hoa màu và gia súc (mức ấn định sử dụng DDT theo tiêu chuẩn EPA Hoa Kỳ là < 2.5% tinh chất). Từ đó người dân được học hỏi và biết dùng hóa chất trong đời sống hàng ngày, nhất là đối với dân sống ở nông thôn ít được tiếp xúc với thành phố vì phương tiện giao thông bị hạn chế.
Về phía người dân, cần phải vứt bỏ những định kiến sai lầm đã có từ đời này
sang đời khác trong cách dùng thuốc, bỏ các thói quen để chấp nhận phương cách mới hầu thâu đạt năng xuất sản xuất, giảm thiểu việc sử dụng thuốc bừa bãi và không hợp lý để bảo vệ môi trừơng sống của chính mình và những người chung quanh.
Sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết và đúng thời điểm tùy theo sự tăng trưởng của từng loại nông phẩm hoặc gia súc nhằm tránh lạm dụng và ảnh hưởng đến năng suất.
Và sau hết để bảo vệ sức khoẻ, cần cố tránh tiếp xúc trực tiếp với thuốc để thuốc khỏi phải thấm vào da thịt, và cố tránh việc dùng thuốc gần các nguồn nước sinh hoạt hàng ngày. Nên nhớ dù DDT không hòa tan trong nước nhưng những hạt bụi li ti vẫn có thể lơ lửng trong nước hay trong không khí hoặc trong đất và rất dểễ xâm nhập vào cơ thể con người.
Việt Nam hiện nay là một quốc gia có tỉ lệ thanh thiếu niên rất cao so với dân số. Đó là tiềm năng lao động lớn nhất trong việc phát triển kinh tế quốc gia. Vì vậy sức khoẻ cần được bảo vệ và dân trí nâng cao. Nếu dùng lăng kính của một chuyên gia dự phòng về tương lai, hầu như mọi người đồng ý rằng chính quyền hiện tại cần mở rộng tầm nhìn, chối bỏ những lợi nhuận ngắn hạn trước mắt để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạn lâu dài hơn. Dân có mạnh, Nước mới giàu! Đó là chân lý ngàn đời không thay đổi.
Mai Thanh Truyết 9/98
|
|
anhtaduong
member
REF: 407824
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
THẨM ĐỊNH MỨC TÁC HẠI CỦA THUỐC SÁT TRÙNG
GỐC ORGANO-PHOSPHATE
Mai T. Truyet.
Cho đến thập niên 80, đa số thuốc sát trùng, diệt cỏ dại đều là hóa chất có gốc là một hay nhiều nhân benzen và chlor kết hợp. Sau một thời gian dài sử dụng, các loại thuốc nầy ảnh hưởng lên sức khỏe của con người và gây nhiều tác hại mà điển hình nhất là bịnh ung thư. Do đó các nhà khoa học cố tìm một phương cách kết hợp khác vẫn giữ được hiệu năng mà lại giảm thiểu được mức tác hại. Từ đó, các hóa chất được kết hợp thêm gốc organo-phosphate ra đời và được áp dụng rộng rãi cho đến nay.
Mặc dù các nhà sản xuất đã cung cấp rất nhiều công trình nghiên cứu về thẩm định mức tác hại của các lọai hóa chất trên, nhưng các nghiên cứu nầy chưa đủ tính cách thời gian để có thể đưa đến kết quả chính xác và kết luận cững chưa được hoàn chỉnh đặc biệt là đối với những định mức về tác hại lên sức khỏe của con người.
Muốn thẩm định ảnh hưởng tác hại của một hóa chất lên sức khỏe của con người, trước tiên cần phải làm nhiều thử nghiệm lên thú vật, rồi từ đó tính ra liều lượng hóa chất có thể tác hại lên con người nghĩa là gấp 10 lần nồng độ cần thiết có thể gây tử vong cho thú vật.
Định mức nầy gọi là nồng độ ô nhiễm tối đa (maximum contaminant level-MCL). EPA cũng vừa công bố mức thẩm định sơ khởi của 31 loại thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate. Sự nghiên cứu dựa trên một cơ chế tác hại chung đã được khảo sát cả trên con người lẫn thú vật; đó là tính chất ức chế của diếu tố acetyl cholinesterase. Đây là một đặc tính chung của các loại hóa chất sát trùng có gốc organo-phosphate.
Tiến sĩ Stephen Johnson, Phụ tá Giám đốc EPA, phát biểu rằng muốn thẩm định mức an toàn và mức độc hại lâu dài của các loại thuốc sát trùng cần phải có khả năng khai triển và áp dụng các phương pháp khoa học. Do đó, EPA đã đo mức độ độc hại của từng hóa chất bằng cách so sánh mức độ ức chế diếu tố nầy trên methamidophos, một loại thuốc sát trùng đã được khảo sát tường tận về nồng độ độc hại, và từ đó suy ra mức độc hại của từng lọai thuốc sát trùng. Cũng từ những định mức nầy EPA đưa ra được tiêu chuẩn mới trong việc phân tích thực phẩm, nước sinh hoạt, và ảnh hưởng của các cư dân sống trong vùng tiếp cận với thuốc sát trùng. Từ các kết quả sơ khởi trên, EPA nhận định rằng các loại thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate hòa tan trong nước uống chưa có chỉ dấu tác hại lên sức khỏe của con người. Tuy nhiên, có 3% trẻ em từ một đến ba tuổi đả bị tiếp xúc quá nhiều hóa chất trên qua đường thực phẩm.
Các nghiên cứu sơ khởi kể trên của EPA đã được trình bày trong một tập tài liệu dầy hơn 800 trang; tuy nhiên, tài liệu nầy vẫn chưa được Hiệp Hội Bảo vệ Mùa màng Hoa kỳ bình luận hay công nhận (American Crop Protection Association).
Trong chiều hướng chuyển tải các thông tin khoa học, người viết xin trình bày sơ lược các giai đoạn cần thiết để truy tìm mức độ an toàn, thời gian tiếp cận, cùng cung cách xác nhận nồng độ có thể chấp nhận được của các hóa chất thuộc gốc organo-phosphate.
Luật Bảo vệ Phẩm chất Thực phẩm ở Hoa kỳ đã được ban hành vào năm 1996 (Food Quality Protection Act- FQPA). Một cách căn bản, theo luật nầy, EPA có trách nhiệm xác định cơ cấu độc hại của tất cả các hóa chất dùng trong kỹ nghệ thực phẩm như thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại, và ảnh hưởng của hóa chất trên lên sức khỏe của con người. EPA cũng còn phải nghiên cứu mọi phương cách tiếp cận độc hại từ thực phẩm, nguồn nước sinh hoạt, và việc sử dụng trong gia đình.
Ngày 15/1/2002, Lois Rossi, thuộc Office of Pesticide Programs, EPA, đã công bố kết quả thử nghiệm việc thẩm định nhóm 31 hóa chât thuộc gốc kễ trên và tuyên bố đây chỉ là kết quả ban đầu và chưa có kết luận chính thức từ phía EPA về mức tác hại của từng hóa chất. Tuy nhiên, giới khoa học thấy được những khuyến cáo xem như là kết luận căn bản trong báo cáo trên: các hợp chất thuộc gốc organo-phosphate trong nguồn nước uống không là nguyên nhân chính gây tác hại lên sức khỏe của con người, mà nguồn thực phẩm mới thực sự là nguyên nhân chính yếu, đặc biệt đối với sức khỏe trẻ em.
Từ những suy nghĩ trên, phương pháp thẩm định phải dựa theo nguyên tắc sử dụng một lượng thuốc sát trùng cần thiết để làm giảm 10% tác dụng của diếu tố acetyl Cholinestase trên súc vật.. Định mức trên đây được gọi là “nồng độ thí nghiệm 10” (benchmark dose 10 – BMD10). Phương pháp nấy đã thay thế phương pháp định mức độc hại cũ là dựa trên cách tính định mức độc hại suy diễn từ nồng độ của hóa chất không gây ảnh hưởng lên tính ức chế, do đó không được chính xác.
Từ định mức BMD10 của từng hóa chất, EPA xác định được mức độ an toàn lên cơ thể con người bằng cách giảm nồng độ BMD10 xuống 100 lần. Tuy nhiên Quốc hội Hoa kỳ, căn cứ theo luật Bảo vệ Thực Phẩm đã quyết định mức an toàn phải là 10 lần thấp hơn định mức của EPA hay tương đương với 0,001 BMD10 mà thôi.
Tư những kết quả nghiên cứu trên, các kết luận ban đầu được trích ra như sau:
· Các thuốc sát trùng thuộc gốc organo-phosphate hiện diện trong thực phẩm là nguồn nhiễm độc nguy hiểm cho con người, đặc biệt là trẻ em từ 1 đến 5 tuổi. Và tùy theo mức độ bị nhiễm độc của trẻ em , Luật Bảo vệ Phẩm chất Thực phẩm sẽ cho phép FDA thu hồi giấây phép sản xuất của hóa chất có độ ô nhiễm quá định mức. Tuy nhiên,EPA vẫn chưa xác định các định mức của từng hóa chất có gốc trên.
· Định mức an toàn của EPA cho nước uống là từ 10 đến 100 lần mức độ an toàn áp dụng cho thực phẩm.
Căn cứ theo Luật Bảo vệ Thực phẩm, EPA cần phải định mức 9.600 hóa chất thuộc gốc nầy, nhưng cho đến nay, mới chỉ có 31 hóa chất được nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh. Hiện tại, EPA cần phải thẩm định lại mức an toàn của hơn 3.200 hóa chất đã được được phép tung ra thị trường căn cứ trên các kết quả thẩm định của các nhà sản xuất.
Các dữ kiện trên đây cho thấy rằng việc thẩm định mức độc hại/an toàn của các loại thuốc sát trùng rất cần thiết và cũng rất phức tạp. Nó đòi hỏi sự hợp tác của các nhà sản xuất, cơ quan bảo vệ môi trường, và các cơ quan y tế. Hơn thế nữa, các quốc gia trên thế giới cần phải phối hợp chặt chẻ để việc thẩm định mau đi đến kết quả hầu giảm thiểu mức tác hại lên con người.
Trong tình thế hiện tại, chúng ta chỉ mới có một ít dữ kiện về các định mức an toàn của các loại hóa chất nầy cùng các ảnh hưởng của chúng lên sức khỏe của con người. Những ảnh hưởng chính là: - 1) Rối loạn nội tiết có thể làm mất khả năng hoạt động trong việc trao đổi hormone trong cơ thể do đó có thể tạo ra những hiện trạng dị hình dị dạng; -2) Ảnh hưởng lên mức sinh trưởng và sinh sản của con người.
Kết luận
Các thuốc sát trùng gốc organo-phosphate đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ hơn 20 năm qua. Tuy nhiên, mức độ độc hại của từng hóa chất chưa được nghiên cứu và xác định rõ ràng. Danh mục của 31 hóa chất mới vừa được EPA Hoa kỳ công bố chỉ là những nghiên cứu sơ khởi về mức độc hại qua sự giảm thiểu tính ức chế của diếu tố cholinesterase trên cơ thể con người. Nhưng từ đó suy ra mức độc hại ảnh hưởng lên sức khỏe hay kết luận về những nguyên nhân gây ra bịnh tật do các hóa chất trên vẫn còn là một bước dài trong việc nghiên cứu. Do đó, biện pháp hay nhất hiện tại là biện pháp phòng bị song hành với việc nghiên cứu ảnh hưởng độc hại. Và biện pháp phòng bị hay nhất trong lúc nầy là hạn chế tối đa việc sử dụng các hóa chất trên trong nông nghiệp.
Theo báo cáo của Bộ Thương Mại Việt Nam (Báo Người Lao Động, 20/4/2002), mức tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật trong nước hàng năm vào khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát được. Khi đem con số nầy áp dụng vào tổng dịên tích đất trồng trọt ở Việt Nam chỉ có khoảng 10 triệu hecta, giới làm khoa học có thể thấy nông dân Việt Nam đã sử dụng một số lượng thuốùc bảo vệ thực vật gấp nhiều lần hơn so với nông dân các quốc gia Tây phương. Theo tiến sĩ Ngô Kiều Oanh thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên, thì với diện tích trồng trọt trong nước hiện tại, chỉ cần độ 50.000 tấn là quá dư thừa rồi. (Nông dân Việt Nam đả sử dụng 30 lần nhiều hơn mức trung bình!). Từ đó suy ra mức độ ô nhiễm các hóa chất độc hại lên thực phẩm tiêu dùng ở Việt Nam để thấy kết quả đương nhiên mà người tiêu thụ trong nước phải hứng chịu: từ cọng rau muống cho đến quả cà, ngó sen. v.v.. . thậm chí cho đến gia cầm, tôm cá,….. .đều có dấu vết của các hóa chất độc hại nầy.
Xin đan cử ra đây một thông tin mới nhất xuất phát từ báo chí trong nước về trường hợp xã Cổ Loa ở miền Bắc.Hiện tại nơi xã nầy có tất cả 195 gia đình có người tàn tận với 318 người bị khuyết tật bẩm sinh. Nhiều gia đình có tới 2,3 con bị dị tật. Vá bài báo kết luận một cách đơn giản là tất cả đều do ảnh hưởng của chất độc màu da cam dioxin. Có phải chăng chỉ vì nơi đây có một gia đình của một cựu bộ đội vượt Trường sơn trong thời gian chiến tranh. Thật giản dị (!) và không cần chứng minh! Thật ra, chỉ cần khả năng khoa học kỹ thuật hiện có của Việt Nam cũng đủ để truy tìm những nguyên nhân của hiện tượng nầy . Xin đề nghị kiểm nghiệm mức dinh dưởng của người dân trong xã để tìm xem có sự khiếm khuyết sinh tố vì thiếu dinh dưởng, và thử nghiệm sự hiện diện của các thuốc bảo vệ thực vật thuộc gốc organo-phosphate trong mô mở, gan.. . của những nạn nhân. Hàng trăm các vụ nhiễm độc gần đây đã được các cơ quan y tế Việt Nam xác nhận là do các thuốc kể trên hiện diện trong nguồn thực phẩm.
Xin đừng đổ lỗi cho quá khứ chiến tranh nữa. Đã đến lúc chính quyền cần phải can đảm chấp nhận một thực tế là hiện tượng ô nhiễm hóa chất độc hại từ Bắc chí Nam là kết quả của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, thiếu chính sách, không kế hoạch. Và hơn nữa người nông dân Việt Nam chưa được chuẩn bị cũng như chưa được chỉ dẫn tường tận cách dùng các loại thuốc trên. Can đảm chấp nhận thực tế trên, can đảm nhận lãnh trách nhiệm để sửa chửa thì hãy còn có cơ may cứu vãn Đất và Nước được. Không còn thì giờ để chỉ quy trách các thế lực quốc tế có mưu đồ phá hoại.
Tình trạng nhiễm độc do thuốc sát trùng và sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng đã đến mức báo động đỏ.
Người Nông dân không còn con đường nào khác hơn là phải tự cứu lấy chính mình!
Mai Thanh Truyết
West Covina 30/4/2002
Ghi Chú:
31 thuốc sát trùng gốc organo-phosphate đều có tính chất kễ trên. Gồm: acephate, azinphos-methyl, bensulide, chlorethoxyfos, chlopyrifos, chlopyrifos-methyl, diazinon, dichlorvos, dicrotophos, dimethoate, disulfoton, thoprop, phenamiphos, phenthion, malathion, metha-midophos, methyl-parathion, mevinphos, naled, oxydenmeton-methyl, phorate, phosolone, phosmet, phostebupirin, pirimiphos-methyl, profenofos, terbufos, tetrachlorinphos, tributos, trichlorofon, và fosthiazate. Chất sau cùng nầy dự định sẽ thay thế methyl-bromide dùng để diệt trùng (fumigation) trước khi trồng trọt, đặc biệt cho kỹ nghệ trồng dâu.
|
|
anhtaduong
member
REF: 407819
11/30/2008
|
>>
xem chủ đề
Là người, ai chẳng xót xa thương
Khi thấy trẻ thơ sống vỉa đường
Bới rác, ăn xin, đời bất hạnh
Lạc loài, bầm giập giữa quê hương
Là người, ai chẳng xót xa thương
Khi trẻ mồ côi lạ mái trường
Nhưng lại thân quen miền bão loạn
Đảo điên học thói xé luân thường
Là người, ai chẳng xót xa thương
Khi thấy thơ ngây phải đoạn trường
Bé gái, hỡi ơi, từ những tuổi
Hoa ngà, nụ ngọc đã phong sương ...
Là người, ai chẳng xót xa thương
Thấy bé sơ sinh bỏ vệ đường
Gái trẻ bán mình miền nước ngoại
Để rồi tan nát những hoa hương !
Là người, ai chẳng xót xa thương
Khi núi sông đau bởi bạo cường
Khi thấy dân mình gìa với trẻ
Sống đời oan nhục, sống thê lương !
Nhìn dân ta khổ, dạ ta đau
Ta móc hầu bao cứu biển sầu
Nhưng có khi nào ta tự hỏi
Nguyên nhân nỗi khổ bởi từ đâu ?
Không trừ từ gốc, trị nguyên căn
Thì chữa muôn năm bịnh chẳng lành
Tiền núi cũng thời trôi đáy biển
Biết khôn đã lỡ, mộng tan tành !
Nếu vì nhân đạo, bởi tình thương
Nên cũng vì ta, giữ lập trường
Đừng để mị từ che khối óc
Mà người thống trị mãi quê hương !
NMH
|
|
|
|
Kí hiệu:
:
trang cá nhân :chủ
để đã đăng
:
gởi thư
:
thay đổi bài
:ý kiến |
|
|
|
|
|